close
Bước tới nội dung

Luis Enrique

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Luis Enrique
BERJAYA
Luis Enrique trên cương vị huấn luyện viên trưởng Barcelona năm 2014
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Luis Enrique Martínez García
Ngày sinh 8 tháng 5, 1970 (56 tuổi)
Nơi sinh Gijón, Tây Ban Nha
Chiều cao 1,80 m (5 ft 11 in)
Vị trí Tiền vệ
Thông tin đội
Đội hiện nay
Paris Saint-Germain
(huấn luyện viên)
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
Năm Đội
1981–1988 Sporting Gijón
1984–1988 → La Braña (mượn)
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1988–1990 Sporting B 27 (5)
1989–1991 Sporting Gijón 36 (14)
1991–1996 Real Madrid 157 (15)
1996–2004 Barcelona 207 (73)
Tổng cộng 427 (107)
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Năm Đội ST (BT)
1990–1991 U-21 Tây Ban Nha 5 (0)
1991–1992 U-23 Tây Ban Nha 14 (3)
1991–2002 Tây Ban Nha 62 (12)
Sự nghiệp huấn luyện
Năm Đội
2008–2011 Barcelona B
2011–2012 A.S. Roma
2013–2014 Celta
2014–2017 Barcelona
2018–2019 Tây Ban Nha
2019–2022 Tây Ban Nha
2023– Paris Saint-Germain
Thành tích huy chương
Bóng đá nam
Đại diện cho BERJAYA Tây Ban Nha
Bóng đá tại Thế vận hội mùa hè
Huy chương vàng – vị trí thứ nhất Barcelona 1992
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia

Luis Enrique Martínez García (sinh ngày 8 tháng 5 năm 1970) là một cựu cầu thủ bóng đá người Tây Ban Nha và hiện là huấn luyện viên của câu lạc bộ Paris Saint-Germain.[1] Ông được đánh giá Là một trong những vị huấn luyện viên xuất sắc nhất mọi thời đại khi dành 2 cú ăn 3 cup châu âu trong sự nghiệp.

Khi còn chơi bóng, ông nổi tiếng với sự nhanh nhẹn và có thể chơi được một vài vị trí khác nhau trong sự nghiệp bóng đá của mình, nhưng thường là với vai trò là tiền về trung tâm, và đã ghi được nhiều bàn thắng trong sự nghiệp thi đấu của mình. Sau khi khởi đầu sự nghiệp của mình tại Sporting de Gijón năm 1989, ông gắn bó với cả hai câu lạc bộ lớn của Tây Ban Nha, đầu tiên là Real Madrid từ năm 1991-96 và rồi chuyển sang FC Barcelona theo dạng chuyển nhượng tự do. Câu lạc bộ này không mấy tin tưởng vào người mới của mình tuy nhiên ông đã nhanh chóng lấy được niềm tin của họ và chẳng bao lâu sau ông trở thành đội trưởng của Barcelona. Anh thi đấu cho Barca trong 8 năm (1996-2004). Ông chơi cho đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha ở 3 kỳ World Cup: 1994, 1998, 2002 và kỳ Euro 1996. Ông khoác áo đội tuyển những chú bò tót này 62 lần và ghi được 12 bàn thắng. Ông cũng là thành viên đội tuyển Tây Ban Nha giành huy chương vàng Olympic mùa hè 1992 ở Barcelona. Ngày 10 tháng 8 năm 2004, ông giải nghệ ở tuổi 34.[2] Vào tháng 3 năm 2004, anh được bầu vào danh sách FIFA 100.[3]

Năm 2008, Enrique là huấn luyện viên đội Barca B và giúp đội bóng này giành 2 Secunda Liga liên tiếp 2009-2010 và 2010-2011. Mối quan hệ thân thiết của ông với người đồng đội cũ, Pep Guardiola - người cũng được bổ nhiệm cùng lúc làm huấn luyện viên F.C. Barcelona vào năm 2008 và đưa đội bóng trở lại hình ảnh số một thế giới - giúp cho đội Barca B và lò đào tạo La Masia có được vô cùng nhiều danh tiếng trong việc đào tạo trẻ và đưa họ lên đội hình 1.

Năm 2011, quyết tâm đi tìm thử thách mới, Luis Enrique quyết định làm huấn luyện viên của A.S. Roma. Tháng 7 năm 2013, Enrique là huấn luyện viên của Celta Vigo. Tháng 6 năm 2014, Enrique trở thành huấn luyện viên của FC Barcelona.[4] Năm 2017, ông chia tay đội bóng sau khi vô địch cúp Nhà vua Tây Ban Nha 2017.[5]

Sự nghiệp cầu thủ

[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ

[sửa | sửa mã nguồn]

Luis Enrique sinh ra tại Gijón, Asturias, và bắt đầu chơi bóng cho câu lạc bộ địa phương Sporting de Gijón,[6] nơi anh gắn với biệt danh Lucho sau Luis Flores, một tiền đạo người Mexico trong đội.[7] Sau đó ông dành phần lớn thời gian chơi bóng cho hai đội bóng lớn nhất của Tây Ban Nha: đầu tiên là Real Madrid trong năm mùa[8] và năm 1996, sau khi kết thúc hợp đồng, ông chuyển sang đại kình địch FC Barcelona theo dạng chuyển nhượng tự do.[9] Cổ động viên xứ Catalan ban đầu còn do dự về vụ chuyển nhượng này, nhưng ông sớm giành được trái tim của họ và chơi bóng cho Barca tám năm, cuối cùng trở thành đội trưởng, và ghi một vài bàn thắng trong các trận El Clásico trước chính đội bóng cũ Real.[10] Khi còn khoác áo Real, ông từng gây dấu ấn khi ghi bàn trong trận thắng sân nhà 5-0 trước Barcelona, nhưng nói rằng sau đó ông "cảm thấy hiếm khi được các cổ động viên Real Madrid đánh giá và không có những kỉ niệm đẹp ở đó".[11]

Quốc tế

[sửa | sửa mã nguồn]

Luis Enrique chơi cho đội tuyển Tây Ban Nha trong ba kì World Cup: 1994, 19982002, cũng như Euro 1996) và ghi 12 bàn thắng sau 62 lần khoác áo. Ông cũng là thành viên trong đội hình giành huy chương vàng tại Thế vận hội Mùa hè 1992Barcelona,[12] và có 13 lần ra sân trong đội hình chính vào ngày 17 tháng 4 năm 1991, trong đó có 22 phút trong trận giao hữu thua 0-2 trước România tại Cáceres.[13]

Tại World Cup 1994 tổ chức tại Mỹ, Luis Enrique ghi bàn thắng đầu tiên trong trận thắng 3-0 ở vòng 16 đội trước Thụy SĩWashington, D.C.[14] Trong thất bại 1-2 ở vòng tứ kết trước Ý tại sân vận động Foxboro, cùi trỏ của Mauro Tassotti đã đập vào mặt ông làm chảy máu,[15] tác động ấy đã khiến Luis bị mất gần một cân máu. Tuy nhiên hành vi đó không bị nhận hình phạt nào trong trận đấu, sau đó Tassotti đã bị cấm tám trận và không bao giờ thi đấu quốc tế nữa.[16]

Sự nghiệp huấn luyện

[sửa | sửa mã nguồn]

Barcelona B

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 26 tháng 5 năm 2008, Luis Enrique trở lại Barcelona, tiếp quản vị trí huấn luyện của đội B vừa được đổi tên thành Barcelona Atlètic trong mùa giải đó.[17] Vào giữa tháng 3 năm 2011, Luis Enrique tuyên bố ông sẽ rời Barcelona B vào cuối mùa, mặc dù vẫn còn hai năm trong hợp đồng.[18] Ông đã đưa đội bóng đến trận playoff, nhưng không đủ điều kiện để thăng hạng.[19]

Ngày 8 tháng 6 năm 2011, Luis Enrique đạt một thỏa thuận với câu lạc bộ từ Serie A A.S. Roma để trở thành vị thuyền trưởng mới của Gialloross. Ông ký một hợp đồng hai năm kèm với đội ngũ huấn luyện gồm bốn người: trong đó có cộng tác viên kĩ thuật là Iván de la Peña, người từng chơi hai năm cho đội bóng kình địch cùng thành phố S.S. Lazio.[20]

Roma bị loại khỏi UEFA Europa League bởi ŠK Slovan Bratislava, giữa những tranh luận gay gắt về việc thay huyền thoại Francesco Totti bằng cầu thủ Stefano Okaka. Đội bóng thủ đô cũng nhận trận thua đầu tiên tại giải nội địa trước Cagliari Calcio, đánh dấu trận thua mở màn thứ ba của đội trong 18 năm.[21]

BERJAYA
Luis Enrique dẫn dắt Barcelona năm 2014

Ngày 19 tháng 5 năm 2014, có thông tin công bố Luis Enrique sẽ trở lại Barcelona để làm huấn luyện viên, sau khi đồng ý một bản hợp đồng ba năm. Ông được đề nghị hợp đồng bởi giám đốc thể thao Andoni Zubizarreta, cựu đồng đội ở tuyển quốc gia.[4] Trận đấu đầu tiên của ông là trận thắng 3-0 trên sân nhà trước Elche CF, nơi ông cho ra mắt những bản hợp đồng mới như Claudio Bravo, Jérémy MathieuIvan Rakitić, và sản phẩm cây nhà lá vườn Munir El Haddadi, RafinhaSandro Ramírez, trong khi bom tấn mùa hè Luis Suárez vắng mặt do bị treo giò.[22]

Mặc dù để thua sân khách trước Real Sociedad, có một thay đổi đáng kể trong phong độ của Barcelona sau khi Enrique thay đổi đội hình. Ông cân bằng kỷ lục 11 chiến thắng liên tiếp của Pep Guardiola,[23] trong khi đội tiếp tục đánh bại Atlético MadridVillarreal CF một cách thuyết phục tại cúp Nhà vua để tiến đến trận chung kết. Tại giải quốc nội, sau khi thắng 8 trên 9 trận, đội bóng đã trở lại vị trí đầu bảng sau 15 tuần.[24]

Ngày 21 tháng 4 năm 2015, Luis Enrique tạo nên trận thắng thứ 42 sau 50 trận dẫn dắt Barcelona với chiến thắng 2-0 trước Paris Saint-Germain, một kỷ lục của một huấn luyện viên.[25] Ông đưa đội bóng đến trận chung kết của UEFA Champions League và vào ngày 17 tháng 5, ông giúp Barca giành danh hiệu vô địch quốc gia thứ 23 sau trận thắng 1-0 trước Atlético Madrid tại sân vận động Vicente Calderón.[26][27] Ngày 6 tháng 6, sau khi đoạt cúp nội địa trước Athletic Bilbao với cùng tỉ số trên, Barcelona hoàn tất cú ăn ba với trận thắng 3-1 trước Juventus trong trận chung kết diễn ra tại Berlin,[28] và ba ngày sau ông đã đặt bút kí bản hợp đồng mới đến 2017.[29]

Ngày 11 tháng 8 năm 2015, Barcelona giành chiến thắng 5–4 trước Sevilla để đoạt Siêu cúp châu Âu 2015.[30] Vào ngày 2 tháng 12, trong trận đấu gặp Villanovense tại vòng 32 đội Cúp Nhà vua, Enrique đã quyết định không đưa cầu thủ mới vào sân sau khi Mathieu dính chấn thương ở 12 phút cuối trận. Dù vẫn còn quyền thay hai người và tỷ số lúc đó đang là 6–1, vị huấn luyện viên này cho biết ông không muốn mạo hiểm đưa các cầu thủ vào sân thi đấu khi chưa khởi động kỹ.[31]

Trong hai mùa giải đầu tiên, Enrique áp dụng chính sách xoay tua thủ môn, với việc Bravo bắt chính ở các trận đấu tại giải vô địch quốc gia còn Marc-André ter Stegen bắt chính ở các giải cúp và cúp châu Âu. Tuy nhiên, cả hai cầu thủ đều bày tỏ sự không đồng tình với chính sách này.[32][33] Đội bóng hoàn tất cú đúp danh hiệu vào ngày 22 tháng 5 năm 2016 sau chiến thắng 2–0 tại Cúp Nhà vua trước Sevilla sau thời gian hiệp phụ. Ở trận đấu này, đội đã phải chơi thiếu người trong hơn 50 phút do Javier Mascherano bị truất quyền thi đấu.[34]

Vào ngày 1 tháng 3 năm 2017, Enrique thông báo rằng ông sẽ không tiếp tục đảm nhiệm vị trí huấn luyện viên trưởng của đội sau ngày 30 tháng 6 khi hợp đồng đáo hạn.[35]

Tây Ban Nha

[sửa | sửa mã nguồn]
BERJAYA
Enrique chỉ đạo đội tuyển Tây Ban Nha vào năm 2020

Luis Enrique được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng đội tuyển quốc gia Tây Ban Nha vào ngày 9 tháng 7 năm 2018, thay thế người đồng đội cũ ở cả câu lạc bộ lẫn đội tuyển quốc gia là Fernando Hierro.[36] Trận đấu đầu tiên ông cầm quân diễn ra vào ngày 8 tháng 9, nơi ông dẫn dắt đội nhà giành chiến thắng 2–1 trước đội tuyển Anh tại giải UEFA Nations League 2018–19 trên sân vận động Wembley.[37]

Tháng 11 năm 2019, Enrique trở lại dẫn dắt đội tuyển quốc gia[38] sau khi từ chức vì lý do cá nhân trước đó bốn tháng.[39][40][41] Phát biểu với báo giới sau khi trở lại, Enrique tỏ ra vô cùng tức giận khi cáo buộc người bạn và cũng là cộng sự gắn bó suốt 6 năm Robert Moreno — người đã thay ông dẫn dắt đội tuyển sau khi ông rời đi — là kẻ "bất trung" vì muốn chiếm giữ lấy vị trí tạm quyền của mình.[42]

Khi Enrique chốt danh sách 24 cầu thủ tham dự Euro 2020 (dù được phép gọi 26 người) mà không có bất kỳ cầu thủ Real Madrid nào, ông đã bị cáo buộc là có thành kiến với câu lạc bộ này. Việc gạch tên một số ngôi sao đình đám khỏi đội hình được xem là cách để ông khẳng định quyền kiểm soát đối với phòng thay đồ và toàn đội.[42] Dù vậy, ông vẫn đưa Tây Ban Nha lọt vào tới bán kết của giải đấu, nơi họ để thua Ý trên chấm luân lưu sau khi hòa 1–1 trong 120 phút thi đấu .[43]

Tại World Cup 2022, đoàn quân của Enrique phải dừng bước ở vòng 16 đội sau một loạt sút luân lưu khác, khi họ thất bại 0–3 trước Maroc.[44] Sau thành tích này, ông đã chính thức từ chức.[45]

Paris Saint-Germain

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 5 tháng 7 năm 2023, Luis Enrique chính thức trở thành huấn luyện viên trưởng của câu lạc bộ Ligue 1 Paris Saint-Germain, kế nhiệm Christophe Galtier;[46] ông đã ký bản hợp đồng có thời hạn hai năm.[47] Ông đã giành được cú ăn ba quốc nội ngay trong mùa giải đầu tiên,[48] ngoài ra ông còn dẫn dắt đội lọt vào tới bán kết Champions League.[49]

PSG tiếp tục duy trì sự thống trị ở giải quốc nội trong mùa giải 2024–25, bất bại trong 28 trận đầu tiên và lên ngôi vô địch sớm sáu vòng đấu.[50] Enrique cũng dẫn dắt đội bóng bảo vệ thành công danh hiệu Coupe de France[51] và tiến đến trận chung kết Champions League,[52] nơi họ đè bẹp Inter Milan 5–0 để hoàn tất cú ăn ba lịch sử. Đây là lần đầu tiên một câu lạc bộ của Pháp đoạt cú ăn ba, qua đó giúp ông trở thành huấn luyện viên thứ hai trong lịch sử hai lần lập được kỳ tích trên.[53][54] Ông cũng đưa đội bóng lọt vào trận chung kết của FIFA Club World Cup 2025, phiên bản mở rộng đầu tiên của giải đấu này. Dù vậy, PSG đã để thua 0–3 trước Chelsea, khép lại hy vọng trở thành đội bóng đầu tiên trong lịch sử giành bảy danh hiệu trong một năm dương lịch.[55]

Ngày 28 tháng 4 năm 2026, Luis Enrique đã chạm mốc 50 chiến thắng tại Champions League chỉ sau 77 trận, xô đổ kỷ lục trước đó do Guardiola nắm giữ khi vị chiến lược gia này cần tới 80 trận để đạt được cột mốc tương tự.[56]

Đời tư

[sửa | sửa mã nguồn]

Luis Enrique kết hôn với người bạn đời lâu năm Elena Cullell vào ngày 27 tháng 12 năm 1997. Con gái út của họ, Xana, qua đời vì ung thư xương ở tuổi 9 vào ngày 29 tháng 8 năm 2019.[57]

Thống kê sự nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ

[sửa | sửa mã nguồn]
Nguồn:[58]
Câu lạc bộ Mùa bóng Giải quốc nội Cúp Châu Âu Khác[nb 1] Tổng cộng
Giải đấu Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Sporting Gijón 1989-90 La Liga 10-10
1990-91 351493-4417
Tổng cộng 36149300004517
Real Madrid 1991-92 La Liga 2946160-415
1992-93 3426081-483
1993-94 282416020403
1994-95 3542060-434
1995-96 313008020413
Tổng cộng 157151823414021318
Barcelona 1996-97 La Liga 35177170205118
1997-98 34186364104725
1998-99 26113031203412
1999-2000 1935376203312
2000-01 2894196-4116
2001-02 23500156-3811
2002-03 1880082-2610
2003-04 2431052-305
Tổng cộng 20773268602770300109
Tổng cộng sự nghiệp 40010253139428110558144
Ghi chú

Quốc tế

[sửa | sửa mã nguồn]

[59]

Tây Ban Nha
NămSố trậnBàn thắng
199110
199200
199320
199493
199580
199692
199742
199881
199984
200030
200150
200250
Tỏng cộng6212

Bàn thắng quốc tế

[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉ số và kết quả liệt kê bàn thắng củatrước[60]

Thống kê sự nghiệp huấn luyện

[sửa | sửa mã nguồn]
Tính đến vào ngày 6 tháng 5 năm 2026[61]
Hồ sơ huấn luyện theo đội bóng và thời gian tại vị
Đội bóng Từ Đến Kết quả Ref
T Th H B BT BB HS % Thắng
Barcelona B 26 tháng 5 năm 2008 8 tháng 6 năm 2011 &0000000000000124000000124&000000000000005900000059&000000000000004000000040&000000000000002500000025&0000000000000208000000208&0000000000000139000000139+690&000000000000004757999947,58 [20][62][63]
Roma 8 tháng 6 năm 2011 13 tháng 5 năm 2012 &000000000000004200000042&000000000000001700000017&00000000000000090000009&000000000000001600000016&000000000000006400000064&000000000000005900000059+50&000000000000004047999940,48 [20][64][65]
Celta 8 tháng 6 năm 2013 17 tháng 5 năm 2014 &000000000000004000000040&000000000000001500000015&00000000000000070000007&000000000000001800000018&000000000000005000000050&000000000000005800000058−80&000000000000003750000037,50 [66][67][68]
Barcelona 19 tháng 5 năm 2014 29 tháng 5 năm 2017 &0000000000000181000000181&0000000000000138000000138&000000000000002200000022&000000000000002100000021&0000000000000519000000519&0000000000000147000000147+3720&000000000000007623999976,24 [4][65]
Tây Ban Nha 9 tháng 7 năm 2018 26 tháng 3 năm 2019 &00000000000000080000008&00000000000000060000006&00000000000000000000000&00000000000000020000002&000000000000002100000021&00000000000000090000009+120&000000000000007500000075,00 [69]
Tây Ban Nha 19 tháng 11 năm 2019 8 tháng 12 năm 2022 &000000000000003900000039&000000000000002000000020&000000000000001400000014&00000000000000050000005&000000000000007600000076&000000000000002800000028+480&000000000000005128000051,28 [70]
Paris Saint-Germain 5 tháng 7 năm 2023 Nay &0000000000000170000000170&0000000000000115000000115&000000000000003100000031&000000000000002400000024&0000000000000415000000415&0000000000000166000000166+2490&000000000000006765000067,65 [65]
Tổng cộng &0000000000000603000000603&0000000000000370000000370&0000000000000122000000122&0000000000000111000000111&00000000000013510000001.351&0000000000000604000000604+7470&000000000000006135999961,36

Danh hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp cầu thủ

[sửa | sửa mã nguồn]
Real Madrid
FC Barcelona
Quốc tế

Sự nghiệp huấn luyện viên

[sửa | sửa mã nguồn]

Barcelona

Paris Saint-Germain

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. "PSG chính thức bổ nhiệm HLV Enrique thay Galtier".
  2. Luis Enrique bows out; BBC Sport, ngày 10 tháng 8 năm 2004
  3. Pele's list of the greatest; BBC Sport, ngày 4 tháng 3 năm 2004
  4. 1 2 3 "Barcelona appoint Luis Enrique as first-team coach". BBC Sport. ngày 19 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2014.
  5. Luis Enrique tính chuyển nghề sau khi chia tay Barca. Bóng đá.com
  6. "Aires de funeral en Asturias" [Funeral march sounds in Asturias]. Mundo Deportivo (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 3 tháng 6 năm 1991. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2017.
  7. Mitten, Andy (ngày 6 tháng 10 năm 2013). "Luis Enrique: 'We think Messi is normal. I can't understand how a player got to that level'". FourFourTwo. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2015.
  8. "Nando compra su carta de libertad para poder fichar por el Madrid" [Nando buys out his contract in order to sign with Madrid] (bằng tiếng Tây Ban Nha). El País. ngày 9 tháng 7 năm 1992. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015.
  9. "Luis Enrique ficha por el Barça por cinco temporadas" [Luis Enrique signs for Barça for five seasons] (bằng tiếng Tây Ban Nha). El País. ngày 28 tháng 5 năm 1996. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2014.
  10. "Un gol con sabor a venganza" [Revenge-flavoured goal] (bằng tiếng Tây Ban Nha). El País. ngày 2 tháng 11 năm 1997. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2014.
  11. Lowe, Sid (ngày 23 tháng 10 năm 2014). "Barca manager Luis Enrique doesn't have fond memories of Real Madrid". ESPN FC. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2015.
  12. "La Roja de 1992, nuestra medalla de oro Olímpica" [1992's La Roja, our Olympic gold medal] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Antena 3. ngày 3 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2017.
  13. De nuevo vencidos y sin gloria (Again beaten hopelessly); Mundo Deportivo, ngày 18 tháng 4 năm 1991 (in Spanish)
  14. "New Barcelona boss Luis Enrique scores for Spain at 1994 World Cup". BBC Sport. ngày 20 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2014.
  15. "Luis Enrique full of respect". BBC Sport. ngày 20 tháng 6 năm 2002. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2014.
  16. Date set for Hendry decision; BBC Sport, 3 tháng 4 năm 2001
  17. Luis Enrique, nuevo entrenador del Barcelona B (Luis Enrique, new Barcelona B coach); El País, ngày 26 tháng 5 năm 2008 (in Spanish)
  18. Luis Enrique se va a final de temporada (Luis Enrique leaves at the end of season) Lưu trữ ngày 25 tháng 4 năm 2011 tại Wayback Machine; FC Barcelona, ngày 15 tháng 3 năm 2011 (in Spanish)
  19. "Eusebio quiere igualar al filial de Luis Enrique" [Eusebio wants to match Luis Enrique's reserves] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Marca. ngày 3 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2016.
  20. 1 2 3 "Luis Enrique ha firmato "Farò calcio spettacolo"" [Luis Enrique has signed "I will produce spectacular football"] (bằng tiếng Ý). La Repubblica. ngày 8 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2016.
  21. Serie A – Enrique's Roma lose opener; Yahoo! Sports, 11 tháng 9 năm 2011
  22. Cryer, Andy (ngày 24 tháng 8 năm 2014). "Barcelona 3–0 Elche". BBC Sport. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2014.
  23. Barcelona: Are we seeing the reawakening of Pep Guardiola's side?; Bleacher Report, ngày 26 tháng 2 năm 2015
  24. FC Barcelona v Rayo Vallecano: Storming to the top of the table! (6–1); FC Barcelona, ngày 8 tháng 3 năm 2015
  25. "Barcelona manager Luis Enrique targets Champions League title". Sky Sports. ngày 22 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2015.
  26. "Lionel Messi hands Barcelona 23rd La Liga title". The Daily Telegraph. ngày 17 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2015.
  27. "Barcelona win La Liga: 10 key factors behind their revival". BBC Sport. ngày 17 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2015.
  28. "Barcelona see off Juventus to claim fifth title". UEFA.com. ngày 6 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2015.
  29. "Barcelona: Coach Luis Enrique extends contract to 2017". BBC Sport. ngày 9 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2015.
  30. Johnston, Neil (ngày 12 tháng 8 năm 2015). "Barcelona 5–4 Sevilla". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2015.
  31. Llorens, Moisés (ngày 2 tháng 12 năm 2015). ""¿Con 10? No quería arriesgar a jugadores importantes en frío"" [With 10? I did not want to risk important players without warmup]. Diario AS (bằng tiếng Tây Ban Nha). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2015.
  32. "Claudio Bravo y su incomodidad con la rotación" [Claudio Bravo and his discomfort with rotation] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Goal. ngày 2 tháng 11 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2016.
  33. "Ter Stegen drops Barcelona exit hint". FourFourTwo. ngày 25 tháng 3 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2016.
  34. Rodríguez, José María (ngày 22 tháng 5 năm 2016). "Messi sirve el doblete" [Messi hands out double]. Marca (bằng tiếng Tây Ban Nha). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2016.
  35. Aarons, Ed (ngày 1 tháng 3 năm 2017). "Luis Enrique announces he will leave Barcelona at end of season". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2017.
  36. "Spanish FA: Luis Enrique is the new coach of Spain". Marca. ngày 9 tháng 7 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2018.
  37. Taylor, Daniel (ngày 8 tháng 9 năm 2018). "Rodrigo consigns England to defeat by Spain in first post-World Cup match". The Guardian. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2018.
  38. Yannick, Nkouaga (ngày 19 tháng 11 năm 2019). "Official: Luis Enrique is the new coach of the Spanish national team". Football News 24. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2019.
  39. Garcia, Adriana (ngày 19 tháng 6 năm 2019). "Luis Enrique quits Spain for personal reasons". ESPN. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2019.
  40. "Comunicado oficial de Luis Enrique Martínez" [Official statement from Luis Enrique Martínez] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Royal Spanish Football Federation. ngày 19 tháng 6 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2019.
  41. "Luis Enrique: Spain manager quits after 11 months". BBC Sport. ngày 19 tháng 6 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2019.
  42. 1 2 Corrigan, Dermot (ngày 8 tháng 6 năm 2021). "Luis Enrique: Spain's 'old-school English manager'". The Athletic. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2021.
  43. Begley, Emlyn (ngày 6 tháng 7 năm 2021). "Italy 1–1 Spain". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2021.
  44. Hafez, Shamoon (ngày 6 tháng 12 năm 2022). "Morocco 0–0 Spain (Morocco win 3–0 on penalties)". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2022.
  45. "La RFEF agradece a Luis Enrique su trabajo al frente de la selección nacional" [The RFEF thanks Luis Enrique for his work in charge of the national team] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Royal Spanish Football Federation. ngày 8 tháng 12 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2022.
  46. "Mercato. PSG: le nouvel entraîneur Luis Enrique présenté mercredi au campus du Paris Saint-Germain" [Market. PSG: new manager Luis Enrique presented Wednesday at Paris Saint-Germain's training camp]. Ouest-France (bằng tiếng Pháp). ngày 4 tháng 7 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2023.
  47. "Luis Enrique: "Travailler tous ensemble pour faire une grande équipe"" [Luis Enrique: "Everybody working together to make a great team"] (bằng tiếng Pháp). Paris Saint-Germain F.C. ngày 5 tháng 7 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2023.
  48. Remise, Christophe (ngày 25 tháng 5 năm 2024). "«La Ligue des champions, on la gagnera»: Luis Enrique confiant et (très) ambitieux pour l'après-Mbappé au PSG" ["The Champions League, we will win it": Luis Enrique confident and (very) ambitious for PSG's post-Mbappé]. Le Figaro (bằng tiếng Pháp). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2024.
  49. Emons, Michael (ngày 7 tháng 5 năm 2024). "Paris St-Germain 0–1 Borussia Dortmund (0–2 agg): Germans move into Champions League final at Wembley". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2024.
  50. "Le PSG champion de France pour la 13e fois de son histoire après sa victoire contre Angers" [PSG French champions for the 13th time in their history after their win against Angers]. L'Équipe (bằng tiếng Pháp). ngày 5 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2025.
  51. Guillemet, Hugo (ngày 24 tháng 5 năm 2025). "Le PSG s'offre une 16e Coupe de France après une victoire facile en finale contre Reims" [PSG treat themselves to 16th French Cup after easy win in final against Reims]. L'Équipe (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2025.
  52. McNulty, Phil (ngày 7 tháng 5 năm 2025). "PSG 2–1 Arsenal (Agg 3–1)". BBC Sport. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2025.
  53. "Paris complete the 11th domestic league, domestic cup and European Cup/UEFA Champions League treble". UEFA. ngày 31 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2025.
  54. "PSG-Inter Milan: les Parisiens remportent brillamment la Ligue des champions" [PSG-Inter Milan: Parisians take Champions League with brilliance]. Le Monde (bằng tiếng Pháp). ngày 31 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2025.
  55. "Palmer inspires Chelsea to global glory". FIFA. ngày 13 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2025.
  56. McGilligan, Brendan (ngày 28 tháng 4 năm 2026). "Luis Enrique breaks Pep Guardiola's Champions League record as PSG beat Bayern Munich in classic semi-final". SPORTbible. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2026.
  57. Hoàng Thông. "Luis Enrique và chuyện về con gái yểu mệnh Xana". VnExpress.
  58. "Luis Enrique". Footballdatabase. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015.
  59. Luis Enrique Martínez García – Goals in International Matches; at RSSSF
  60. "Luis Enrique". European Football. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2015.
  61. "Kỷ lục huấn luyện viên thi đấu của Luis Enrique". UEFA.
  62. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên Reserves
  63. Bản mẫu:BDFutbol season
    Bản mẫu:BDFutbol season
    Bản mẫu:BDFutbol season
  64. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên Roma2
  65. 1 2 3 Sự nghiệp huấn luyện viên của Luis Enrique tại Soccerbase Sửa dữ liệu tại Wikidata
  66. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên Celta1
  67. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên Celta2
  68. Bản mẫu:BDFutbol season
  69. Ridge, Patric (ngày 20 tháng 6 năm 2019). "Luis Enrique grateful for privacy after leaving Spain role". The Hindu. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2019.
  70. "Luis Enrique to return as Spain manager following daughter's death". BBC Sport. ngày 19 tháng 11 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2019.
  71. "Un pasillo y muchos bostezos" [Guard of honour and yawns aplenty] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Mundo Deportivo. ngày 11 tháng 6 năm 1995. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2015.
  72. "Una Copa para el consuelo" [Consolation Cup] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Mundo Deportivo. ngày 27 tháng 6 năm 1993. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2015.
  73. "El Barça se estrella contra la mala suerte" [Barça crashes into bad luck] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Mundo Deportivo. ngày 17 tháng 12 năm 1993. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2015.
  74. "Adiós con sonrojo" [Embarrassing goodbye] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Mundo Deportivo. ngày 16 tháng 5 năm 1998. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2015.
  75. "Despedida a lo gran campeón" [Curtain call as a great champion] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Mundo Deportivo. ngày 14 tháng 6 năm 1999. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2015.
  76. "Barça de titanes" [Titanic Barça] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Mundo Deportivo. ngày 29 tháng 6 năm 1997. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015.
  77. "La Copa más histórica" [The most historical Cup] (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). Mundo Deportivo. ngày 30 tháng 4 năm 1998. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015.
  78. "Título con súper-susto" [Title with mega-scare] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Mundo Deportivo. ngày 29 tháng 8 năm 1996. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015.
  79. "1996/97: Ronaldo spot on for Barça". UEFA.com. ngày 14 tháng 5 năm 1997. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015.
  80. "El triunfo en el fútbol, broche de oro para España en Barcelona 92" [Football win, icing on the cake for Spain in Barcelona 92] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Dame Un Silbidito. tháng 4 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2015.
  81. 1 2 3 4 5 6 "Luis Enrique". Soccerway. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2016.
  82. "Paris Saint-Germain win their 12th Ligue 1 title!". Paris Saint-Germain F.C. ngày 28 tháng 4 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2024.
  83. "Le PSG champion de France pour la 13e fois de son histoire après sa victoire contre Angers" [PSG are crowned French champions for the 13th time in their history after their victory against Angers.]. L'Équipe (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2025.
  84. "Grâce à un grand Safonov, le PSG s'impose à Lens et décroche son 14e titre de champion de France" (bằng tiếng Pháp). L'Equipe. ngày 13 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2026.
  85. "PSG beat Lyon 2-1 to win French Cup final in Mbappe's farewell appearance". Reuters. ngày 25 tháng 5 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2024.
  86. Guillemet, Hugo (ngày 24 tháng 5 năm 2025). "Le PSG s'offre une 16e Coupe de France après une victoire facile en finale contre Reims". L'Équipe (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2025.
  87. "Paris start 2024 with Trophée des Champions triumph!". Paris Saint-Germain F.C. ngày 3 tháng 1 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  88. "Foot : Ousmane Dembélé offre sur le fil un nouveau Trophée des champions au PSG contre Monaco". L'Équipe (bằng tiếng Pháp). ngày 5 tháng 1 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2025.
  89. "Le PSG de Lucas Chevalier tient son premier titre 2026" [Lucas Chevalier's PSG get their first 2026 title] (bằng tiếng Pháp). Radio Télévision Suisse. ngày 8 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2026.
  90. "PSG-Inter Milan : les Parisiens remportent brillamment la Ligue des champions". lemonde.fr. lemonde.fr. ngày 31 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2025.
  91. Bärthel, Julie (ngày 13 tháng 8 năm 2025). "PSG gewinnt Elfmeterkrimi gegen Tottenham" [PSG win penalty shootout against Tottenham] (bằng tiếng Đức). Sportschau. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2025.
  92. "Porté par un énorme Safonov lors des tirs au but, le PSG remporte la première Coupe Intercontinentale de son histoire face à Flamengo". L'Équipe. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2025.
  93. "Douché par Chelsea, le PSG ne sera pas le premier vainqueur de la Coupe du monde des clubs". L'Équipe (bằng tiếng Pháp). ngày 13 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2025.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]