close
Bước tới nội dung

Giải vô địch bóng đá thế giới

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ FIFA World Cup)
FIFA World Cup
BERJAYA
Cơ quan tổ chứcFIFA
Thành lập1930; 96 năm trước (1930)
Khu vựcQuốc tế
Số đội48
Giải đấu liên quanGiải vô địch bóng đá nữ thế giới
Đội vô địch
hiện tại
BERJAYA Tây Ban Nha (lần thứ 2)
Đội bóng
thành công nhất
BERJAYA Brasil (5 lần)
Websitefifa.com/worldcup
BERJAYA FIFA World Cup 2026
BERJAYA
Chiếc cúp FIFA World Cup.

Giải vô địch bóng đá thế giới, còn gọi là Cúp bóng đá thế giới, tên chính thức là FIFA World Cup, hay gọi đơn giản là World Cup, là giải đấu bóng đá do Liên đoàn Bóng đá Quốc tế (FIFA) tổ chức với chu kỳ 4 năm 1 lần cho cả các đội tuyển bóng đá nam quốc gia của những nước thành viên FIFA. Giải lần đầu tiên được tổ chức vào năm 1930, và bị gián đoạn 2 lần vào các năm 1942 và 1946 do Chiến tranh thế giới thứ hai. Giải đấu bắt đầu với giai đoạn vòng loại, diễn ra trong 3 năm trước đó để xác định đội nào giành quyền tham dự vòng chung kết. Ở vòng chung kết, 48 đội cạnh tranh chức vô địch tại các địa điểm trong (các) quốc gia chủ nhà trong thời gian khoảng 1 tháng. (Các) quốc gia chủ nhà tự động lọt vào vòng bảng của giải đấu.

World Cup là sự kiện thể thao thu hút sự quan tâm đông đảo nhất trên toàn thế giới.[1][2] Lượng người xem World Cup 2018 ước tính đạt 3,57 tỷ người (nhưng không danh giá bằng UEFA EURO), gần một nửa dân số toàn cầu,[3][4] trong khi lượng người xem World Cup 2022 ước tính đạt 5 tỷ người, khoảng 1,5 tỷ lượng xem trên các khu vực có bản quyền và truyền hình trận chung kết giữa Argentina và Pháp.[5]

Qua 23 lần (tính đến năm 2026) tổ chức, tính đến nay mới chỉ có tám đội tuyển quốc gia vô địch giải đấu này. Brasil là đội tuyển duy nhất tham dự đủ 22 vòng chung kết và cũng là đội tuyển thành công nhất với năm lần vô địch. Tiếp đó là ĐứcÝ với bốn lần giành ngôi cao nhất. Argentina ba lần nâng cúp, Pháp, Tây Ban Nha, và Uruguay cùng có hai danh hiệu, trong khi Anh chỉ có một lần vô địch.

Tên gọi

[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi chính thức của FIFA World Cup đã có vài lần thay đổi. Lúc đầu nó được gọi là "World Cup" (Cúp thế giới, Coupe du monde), sau đó là "Cúp Jules Rimet" (tên của cựu chủ tịch FIFA, người đề xướng giải đấu này), rồi đến "Giải vô địch bóng đá thế giới – Cúp Jules Rimet" và sau cùng là "FIFA World Cup". Tại Việt Nam, "World Cup" được gọi phổ biến hơn hẳn so với "Giải vô địch bóng đá thế giới".[6][7]

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Các giải đấu quốc tế trước đây

[sửa | sửa mã nguồn]

Trận đấu bóng đá quốc tế đầu tiên trên thế giới là trận đấu diễn ra tại Glasgow năm 1872 giữa 2 tiểu quốc là ScotlandAnh (nay thuộc Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland),[8] kết thúc với tỷ số hòa 0-0. Giải đấu quốc tế đầu tiên, Giải vô địch Anh quốc khai mạc, diễn ra vào năm 1884.[9] Khi bóng đá ngày càng phổ biến ở các nơi khác trên thế giới vào đầu thế kỷ XX, nó được tổ chức như một môn thể thao không có huy chương dành cho các vận động viên thể thao không chuyên nghiệp tại Thế vận hội Mùa hè 19001904 (tuy nhiên, IOC đã nâng cấp vị thế của chúng thành các sự kiện chính thức) và tại Thế vận hội Mùa hè 1906 (Olympic 1896 vẫn gây tranh cãi về việc liệu có từng diễn ra môn bóng đá giữa 2 đội của Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay tại châu Âu hay không).[10] Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland là nhà vô địch Olympic đầu tiên vào năm 1900.

Sau khi FIFA được thành lập vào năm 1904, tổ chức này đã cố gắng sắp xếp một giải đấu bóng đá chuyên nghiệp quốc tế giữa các quốc gia bên ngoài khuôn khổ Olympic vào năm 1906. Đây là những ngày đầu tiên của bóng đá quốc tế, và FIFA đã thất bại trong việc tổ chức một giải đấu như thế.[11]

Tại Thế vận hội Mùa hè 1908London, bóng đá đã trở thành một cuộc thi chính thức. Được lên kế hoạch bởi Hiệp hội bóng đá Anh (FA), cơ quan quản lý bóng đá của Anh, sự kiện này chỉ dành cho các cầu thủ nghiệp dư và bị nghi ngờ là một giải trình diễn chứ không phải là một cuộc thi đấu. Vương quốc Anh (đại diện bởi đội bóng đá nghiệp dư quốc gia Anh) đã giành huy chương vàng. Họ lặp lại thành tích này tại Thế vận hội Mùa hè 1912 ở Stockholm.

Với sự kiện Olympic tiếp tục được thi đấu giữa các đội nghiệp dư, Sir Thomas Lipton đã tổ chức giải đấu Sir Thomas Lipton Trophy ở Turin vào năm 1909. Giải đấu Lipton là giải vô địch giữa các câu lạc bộ cá nhân (không phải các đội tuyển quốc gia) từ các quốc gia khác nhau, mỗi đội đại diện cho cả một quốc gia). Cuộc thi đôi khi được mô tả là Giải vô địch bóng đá thế giới đầu tiên[12] và với sự góp mặt của các câu lạc bộ chuyên nghiệp uy tín nhất từ Ý, ĐứcThụy Sĩ, nhưng Hiệp hội bóng đá Anh đã từ chối cuộc thi và từ chối lời đề nghị gửi một đội chuyên nghiệp. Lipton đã mời West Auckland, một đội bóng nghiệp dư từ County Durham, đại diện thay thế cho nước Anh. West Auckland đã vô địch giải đấu và trở lại vào năm 1911 để bảo vệ thành công danh hiệu của họ.

Năm 1914, FIFA đã công nhận Olympic là "giải vô địch bóng đá thế giới dành cho người nghiệp dư" và chịu trách nhiệm quản lý sự kiện này.[13] Điều này đã mở đường cho cuộc thi bóng đá liên lục địa đầu tiên trên thế giới, tại Thế vận hội Mùa hè 1920, với các trận đấu gồm Ai Cập và 13 đội châu Âu và chiến thắng cuối cùng thuộc về Bỉ.[14] Uruguay đã giành được huy chương vàng ở hai giải đấu bóng đá Olympic tiếp theo vào năm 1924 và 1928. Do đó cũng là hai giải vô địch thế giới đầu tiên, vì năm 1924 là khởi đầu của kỷ nguyên bóng đá chuyên nghiệp của FIFA.

World Cup trước Thế chiến 2

[sửa | sửa mã nguồn]
BERJAYA
Chủ tịch FIFA Jules Rimet đã thuyết phục các liên minh để thúc đẩy một giải đấu bóng đá quốc tế.

Sau sự thành công của các giải đấu bóng đá Olympic, FIFA được sự thúc giục bởi chủ tịch Jules Rimet, một lần nữa bắt đầu xem xét việc tổ chức giải đấu quốc tế riêng biệt bên ngoài Olympic. Vào ngày 28 tháng 5 năm 1928, Đại hội FIFA tại Amsterdam đã quyết định tổ chức 1 giải vô địch thế giới.[15] Với việc Uruguay đã 2 lần vô địch 2 kỳ Olympic gần nhất và để kỷ niệm 100 năm độc lập của nước này vào năm 1930, FIFA đã chọn Uruguay là nước chủ nhà của giải đấu.

Các hiệp hội bóng đá quốc gia của các quốc gia được chọn đã được mời để gửi đội tham dự, nhưng việc lựa chọn nơi tổ chức là Uruguay đồng nghĩa với việc sẽ cần 1 chuyến đi dài và tốn kém để băng qua Đại Tây Dương cho các đội bóng châu Âu. Vì vậy, không có quốc gia châu Âu nào cam kết gửi đội tham gia cho đến thời điểm 2 tháng trước khi bắt đầu giải. Rimet cuối cùng đã thuyết phục các đội từ Bỉ, Pháp, RomaniaNam Tư thực hiện chuyến đi. Tổng cộng, 13 quốc gia đã tham gia gồm: 7 đội từ Nam Mỹ, 4 đội từ Châu Âu và 2 đội từ Bắc Mỹ.

BERJAYA
Estadio Centenario, địa điểm của trận chung kết World Cup đầu tiên diễn ra vào năm 1930 tại Montevideo, Uruguay

2 trận đấu World Cup đầu tiên diễn ra đồng thời vào ngày 13 tháng 7 năm 1930; PhápHoa Kỳ là đội chiến thắng trong 2 trận đầu tiên của giải, lần lượt đánh bại Mexico 4-1 và Bỉ 3-0. Bàn thắng đầu tiên trong lịch sử World Cup được ghi bởi Lucien Lauros của Pháp.[16] Trong trận chung kết, Uruguay đã đánh bại Argentina 4-2 trước sự theo dõi của 93.000 khán giả ở Montevideo và trở thành quốc gia đầu tiên vô địch World Cup.[17] Sau khi World Cup thành lập, FIFAIOC có mâu thuẫn với sự tham gia của các cầu thủ nghiệp dư và vì thế bóng đá đã bị loại khỏi Olympic 1932.[18] Bóng đá ở Olympic đã trở lại từ Olympic 1936 tại Đức, nhưng đã bị lu mờ bởi một World Cup hấp dẫn và danh giá hơn.

Các vấn đề phải đối mặt với các kỳ World Cup đầu tiên trong thập niên 1930 cũng như trong bóng đá nói riêng và thể thao nói chung là những khó khăn sâu sắc của việc di chuyển xuyên lục địa và chiến tranh - chính trị. Rất ít các đội lục địa Nam Mỹ sẵn sàng tới châu Âu tham dự World Cup 1934 và tất cả các quốc gia Bắc và Nam Mỹ, ngoại trừ BrazilCuba, đã tẩy chay giải đấu năm 1938. Brazil là đội Nam Mỹ duy nhất tham gia cả 2 giải. World Cup năm 1942 và 1946 mà Đức và Brazil đã tìm cách tổ chức[19] đã bị hủy bỏ do Chiến tranh thế giới thứ 2 và hậu quả nghiêm trọng của nó.

World Cup sau Thế chiến II

[sửa | sửa mã nguồn]
BERJAYA
Trận khai mạc tại sân vận động MaracanãRio de Janeiro, ngay trước khi World Cup 1950 diễn ra, từ Viện Lưu trữ Quốc gia Brasil.

World Cup 1950 được tổ chức tại Brazil là lần đầu tiên xuất hiện các đội tuyển thuộc Vương quốc Anh. Vương quốc Anh đã rút khỏi FIFA năm 1920, một phần do không muốn thi đấu với các quốc gia đã có chiến tranh với họ, và phần khác là do các cuộc biểu tình chống lại sự ảnh hưởng của nước ngoài đối với bóng đá[20] nhưng đã chấp nhận gia nhập lại vào năm 1946 theo lời mời của FIFA.[21] Giải đấu cũng chứng kiến sự trở lại của nhà vô địch năm 1930 Uruguay, đội bóng đã tẩy chay hai kỳ World Cup trước đó. Uruguay đã vô địch giải đấu một lần nữa sau khi đánh bại đội chủ nhà Brazil, trong trận đấu mang tên "Maracanazo" (tiếng Bồ Đào Nha: Maracanaço).

Trong các giải đấu từ năm 1934 đến 1978, 16 đội thi đấu tại vòng chung kết, ngoại trừ năm 1938, khi Áo bị sáp nhập vào Đức sau vòng loại, do đó chỉ còn 15 đội và năm 1950, khi Ấn Độ, ScotlandThổ Nhĩ Kỳ rút lui, giải đấu chỉ còn 13 đội.[22] Hầu hết các quốc gia tham dự là từ Châu ÂuNam Mỹ, với một số ít từ Bắc Mỹ, Châu Phi, Châu ÁChâu Đại Dương. Các đội này thường bị đánh bại dễ dàng bởi các đội châu Âu và Nam Mỹ vốn mạnh hơn hẳn và do đó giải đấu tiếp tục duy trì thế độc tôn của hai châu lục này ở sự kiện thể thao lớn nhất trong thời hiện đại. Cho đến năm 1982, chỉ có các đội sau ngoài châu Âu và Nam Mỹ vượt qua vòng bảng: Hoa Kỳ vào bán kết vào năm 1930; Cuba vào tứ kết năm 1938; Bắc Triều Tiên vào tứ kết năm 1966; và Mexico vào tứ kết năm 1970.

Mở rộng tới 32 đội

[sửa | sửa mã nguồn]
BERJAYA
Quang cảnh bên trong của sân vận động Soccer City tại Johannesburg, Nam Phi, trong một trận đấu tại World Cup 2010.

Giải đấu được mở rộng thành 24 đội vào năm 1982[23] và sau đó tăng lên 32 đội vào năm 1998,[24] ngoài ra cũng cho phép nhiều đội hơn từ Châu Phi, Châu Á và Bắc Mỹ tham gia. Kể từ đó, các đội từ các khu vực này đã gặt hái được nhiều thành công hơn, một số trong đó đã lọt vào tứ kết: Mexico vào tứ kết năm 1986; Cameroon vào tứ kết năm 1990; Hàn Quốc lọt vào bán kết năm 2002; Sénégal cùng với Hoa Kỳ, lọt vào tứ kết năm 2002; Ghana lọt vào tứ kết năm 2010; Costa Rica lọt vào tứ kết vào năm 2014Maroc lọt tới bán kết năm 2022. Tuy nhiên, các đội châu Âu và Nam Mỹ vẫn tiếp tục thống trị; các đội lọt vào tứ kết của các giải đấu năm 1994, 1998, 20062018 đều là các đội châu Âu và Nam Mỹ.

199 đội đã tham dự vòng loại World Cup 2002; 198 quốc gia đã thi đấu tại vòng loại World Cup 2006, trong khi kỷ lục về số quốc gia tham dự vòng loại là 214 ở giải năm 2018.[25]

Mở rộng tới 48 đội

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 10 năm 2013, Sepp Blatter đã nói về việc đảm bảo cho khu vực của Liên đoàn bóng đá Caribe một vị trí tại World Cup.[26] Trong ấn bản ngày 25 tháng 10 năm 2013 của tuần báo FIFA Weekly, Blatter đã viết rằng: "Từ góc độ thể thao thuần túy, tôi muốn thấy sự toàn cầu hóa cuối cùng được thực hiện nghiêm túc mà các hiệp hội thể thao quốc gia châu Phi và châu Á đã đạt được vị thế mà họ xứng đáng tại Giải vô địch bóng đá thế giới."[27]

Sau khi xuất bản tạp chí, đối thủ của Blatter cho cương vị Chủ tịch FIFA, Chủ tịch UEFA Michel Platini, trả lời rằng ông dự định mở rộng World Cup lên tới 40 hiệp hội bóng đá quốc gia, tăng số lượng đội tham dự hiện tại lên 8 đội. Platini nói rằng ông sẽ phân bổ một suất bổ sung cho UEFA, hai cho Liên đoàn bóng đá châu ÁLiên đoàn bóng đá châu Phi, hai suất được chia sẻ giữa CONCACAFCONMEBOL, và một suất bảo đảm cho Liên đoàn bóng đá châu Đại Dương.[28] Platini đã nói rõ về lý do tại sao ông muốn mở rộng World Cup: "World Cup không dựa trên chất lượng của các đội vì bạn không có 32 người giỏi nhất tại World Cup... nhưng đó là một sự thỏa hiệp tốt.... Đó là vấn đề chính trị vậy tại sao không có nhiều nước châu Phi hơn? Giải đấu mang lại cho tất cả mọi người trên toàn thế giới. Nếu không cho họ cơ hội tham gia, bóng đá sẽ không tiến bộ."[28]

Vào tháng 10 năm 2016, chủ tịch FIFA Gianni Infantino tuyên bố ủng hộ tăng số đội World Cup lên 48 đội vào năm 2026.[29] Vào ngày 10 tháng 1 năm 2017, FIFA xác nhận World Cup 2026 sẽ có 48 đội vào chung kết.[30]

Vụ án tham nhũng FIFA 2015

[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 5 năm 2015, các cáo buộc hình sự về tội nhận hối lộ, lừa đảo và rửa tiền để tham nhũng trong việc phát hành quyền truyền thông và tiếp thị (đấu thầu gian lận) cho các giải đấu của FIFA,[31] với các quan chức FIFA bị buộc tội nhận hối lộ với tổng số tiền hơn 150 triệu đô la trong 24 năm. Vào cuối tháng 5, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đã công bố bản cáo trạng 47 tội danh với các cáo buộc đấu giá, lừa đảo qua đường dây và rửa tiền âm mưu chống lại 14 người. Việc bắt giữ hơn một chục quan chức FIFA đã được thực hiện kể từ thời điểm đó, đặc biệt là vào ngày 29 tháng 5 và ngày 3 tháng 12.[32] Đến cuối tháng 5 năm 2015, tổng cộng chín quan chức FIFA và năm giám đốc điều hành của các thị trường thể thao và phát thanh truyền hình đã bị buộc tội tham nhũng. Vào thời điểm đó, Chủ tịch FIFA Sepp Blatter tuyên bố sẽ từ bỏ vị trí của mình vào tháng 2 năm 2016.[33]

Vào ngày 4 tháng 6 năm 2015, Chuck Blazer khi hợp tác với FBI và chính quyền Thụy Sĩ đã thừa nhận rằng ông và các thành viên khác trong ủy ban điều hành của FIFA đã bị mua chuộc để quảng bá cho World Cup 19982010.[34] Vào ngày 10 tháng 6 năm 2015, chính quyền Thụy Sĩ đã tịch thu dữ liệu máy tính từ các văn phòng của Sepp Blatter.[35] Cùng ngày, FIFA đã hoãn quá trình đấu thầu World Cup 2026 trước những cáo buộc xung quanh việc hối lộ trong các giải đấu 2018 và 2022. Tổng thư ký lúc bấy giờ Jérôme Valcke tuyên bố: "Do tình hình này, tôi nghĩ rằng thật vô lý khi bắt đầu bất kỳ quy trình đấu thầu nào trong thời điểm hiện tại."[36] Vào ngày 28 tháng 10 năm 2015, Blatter và Phó chủ tịch FIFA đã bị đình chỉ làm việc trong 90 ngày; cả hai đều thừa nhận vô tội trong các tuyên bố gửi cho các phương tiện truyền thông.[37]

Vào ngày 3 tháng 12 năm 2015, hai phó chủ tịch FIFA đã bị bắt vì nghi ngờ hối lộ trong cùng một khách sạn ở Zurich, Áo, nơi bảy quan chức FIFA đã bị bắt giữ vào tháng 5.[38] Thêm 16 cáo trạng của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đã được công bố cùng ngày.[39]

Các giải đấu FIFA khác

[sửa | sửa mã nguồn]
BERJAYA
Sân vận động BC Place tại Vancouver tổ chức Giải vô địch bóng đá nữ thế giới.

Một giải đấu tương đương dành cho bóng đá nữ, Giải vô địch bóng đá nữ thế giới, lần đầu tiên được tổ chức vào năm 1991 tại Trung Quốc.[40] Giải đấu dành cho nữ có quy mô nhỏ hơn nam giới, nhưng đang trong quá trình phát triển; số lượng quốc gia tham gia giải đấu năm 2007 là 120, nhiều hơn gấp đôi so với năm 1991.[41]

Bóng đá nam đã được đưa vào mọi kỳ Thế vận hội Olympic mùa hè trừ năm 18961932. Không giống như nhiều môn thể thao khác, giải bóng đá nam tại Thế vận hội không phải là giải đấu cấp cao nhất và kể từ năm 1992, giải đấu chỉ dành cho độ tuổi dưới 23 (U-23) với mỗi đội được phép mang ba cầu thủ vượt quá tuổi được tổ chức.[42] Bóng đá nữ ra mắt tại Olympic năm 1996.

Cúp Liên đoàn các châu lục (FIFA Confederations Cup) là giải đấu được tổ chức một năm trước World Cup tại (các) quốc gia đăng cai World Cup như một đợt thử nghiệm, khảo sát cho kỳ World Cup sắp tới.[43]

FIFA cũng tổ chức các giải đấu quốc tế dành cho bóng đá trẻ (Giải vô địch bóng đá U-20 thế giới, Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới, Giải vô địch bóng đá nữ U-20 thế giới, Giải vô địch bóng đá nữ U-17 thế giới), bóng đá câu lạc bộ (Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ (FIFA Club World Cup)), và các biến thể bóng đá như futsal (Giải vô địch bóng đá trong nhà thế giới (FIFA Futsal World Cup)) và bóng đá bãi biển (Giải vô địch bóng đá bãi biển thế giới (FIFA Beach Soccer World Cup)). Ba giải sau không có phiên bản dành cho nữ, mặc dù Giải vô địch bóng đá nữ thế giới các câu lạc bộ đã được đề xuất.[44]

Giải vô địch bóng đá nữ U-20 thế giới được tổ chức một năm trước mỗi kỳ của Giải vô địch bóng đá nữ thế giới. Giải đấu U-20 đóng vai trò là một đợt thử nghiệm cho giải đấu lớn hơn.[45]

Sự kiện chính

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Năm 1930, giải đấu đầu tiên được tổ chức tại Uruguay, là kỳ World Cup duy nhất mà tất cả các trận đấu được tổ chức ở cùng một thành phố là Montevideo, thủ đô Uruguay và không tổ chức vòng loại. Uruguay trở thành đội đầu tiên vô địch giải đấu khi tổ chức trên sân nhà.
  • Năm 1934, kỳ World Cup lần đầu tiên trong lịch sử được tổ chức tại châu Âu và số đội tham dự là 16, giải duy nhất mà đội chủ nhà cũng phải tham dự vòng loại. Ý là đội giành chức vô địch lần đầu tiên sau thắng lợi trước đội tuyển Tiệp Khắc với tỉ số 2-1 sau 2 hiệp phụ (2 đội hoà nhau với tỉ số 1-1 sau 90 phút thi đấu chính thức).
  • Năm 1938, kỳ World Cup lần đầu tiên được tổ chức tại Pháp. Ý trở thành đội đầu tiên bảo vệ thành công chức vô địch sau thắng lợi trước đội tuyển Hungary với tỉ số 4-2 trong trận chung kết. Đây cũng là kỳ World Cup cuối cùng trước khi giải đấu bị gián đoạn vào năm 1942 và năm 1946 do ảnh hưởng của Chiến tranh thế giới thứ hai.
  • Năm 1950, kỳ World Cup lần đầu tiên được tổ chức tại Brazil. Uruguay trở thành đội bóng châu Mỹ giành chức vô địch lần thứ 2 của mình. Ý trở thành đội đương kim vô địch đầu tiên bị loại ngay từ vòng bảng. Đây cũng là kỳ World Cup trở lại sau 12 năm gián đoạn vì do ảnh hưởng của Chiến tranh thế giới thứ hai.
  • Năm 1954, kỳ World Cup lần đầu tiên được tổ chức tại Thụy Sĩ, và cũng là lần đầu tiên giải được chiếu trên truyền hình. Đội tuyển Tây Đức trở thành đội giành chức vô địch lần đầu tiên sau thắng lợi trước đội tuyển Hungary với tỉ số 3-2 trong trận chung kết.
  • Năm 1958, kỳ World Cup lần đầu tiên được tổ chức tại Thụy Điển. Đội tuyển chủ nhà Thuỵ Điển có lần đầu tiên trong lịch sử lọt vào trận chung kết của 1 kỳ World Cup, Brasil lần đầu tiên vô địch thế giới và là lần đầu tiên giải thưởng cầu thủ trẻ xuất sắc nhất ra đời và cũng là lần đầu tiên một đội tuyển quốc gia Nam Mỹ vô địch trên đất châu Âu.
  • Năm 1962, kỳ World Cup lần đầu tiên được tổ chức tại Chile, và cũng là lần đầu tiên hiệu số bàn thắng được sử dụng để phân hạng 2 đội bằng điểm. Đội tuyển Brasil giành chức vô địch lần thứ 2 sau thắng lợi trước đội tuyển Tiệp Khắc với tỉ số 3-1 trong trận chung kết.
  • Năm 1966, kỳ World Cup lần đầu tiên được tổ chức tại Anh, và cũng là lần thứ hai 4 đội vào bán kết đều đến từ Châu Âu. Đội tuyển chủ nhà Anh đã giành chức vô địch thế giới lần đầu tiên sau thắng lợi trước đội tuyển Tây Đức với tỉ số 4-2 (2 đội hoà nhau với tỉ số 2-2 sau 2 hiệp thi đấu chính thức). Brasil trở thành cựu vô địch lần thứ 2 bị loại từ vòng bảng.
  • Năm 1970, kỳ World Cup lần đầu tiên tổ chức tại quốc gia Bắc MỹMéxico, Brasil trở thành đội bóng đầu tiên vô địch 3 lần và giữ cúp vĩnh viễn, lần đầu tiên thẻ vàng, thẻ đỏ và giải thưởng đội tuyển phong cách được áp dụng.
  • Năm 1974, kỳ World Cup lần đầu tiên được tổ chức tại Tây Đức. Cúp FIFA World Cup được ra đời. Đội tuyển chủ nhà Tây Đức đã giành chức vô địch thế giới trước đội tuyển Hà Lan với tỉ số 2-1 trong trận chung kết.
  • Năm 1978, kỳ World Cup thứ 5 tổ chức tại châu Mỹ và cũng là lần đầu tiên được tổ chức tại Argentina. Đội tuyển chủ nhà Argentina lần đầu tiên đoạt chức vô địch bóng đá thế giới sau thắng lợi trước đội tuyển Hà Lan với tỉ số 3-1 sau hai hiệp phụ (vì 2 đội có tỉ số hòa 1-1 ở hai hiệp thi đấu chính thức 90 phút).
  • Năm 1982, lần đầu tiên Tây Ban Nha đăng cai giải đấu này và cũng là lần đầu tiên được tổ chức tại một quốc gia thuộc bán đảo Iberia, giải đấu tăng số đội lên thành 24 đội. Ý trở thành đội bóng châu Âu đầu tiên có 3 chức vô địch sau thắng lợi trước Tây Đức với tỉ số 3-1 trong trận chung kết.
  • Năm 1986, México trở thành quốc gia đầu tiên đăng cai giải đầu lần thứ 2 (lần trước là kỳ World Cup 1970). Đội tuyển Argentina giành chức vô địch lần thứ 2 trong lịch sử sau thắng lợi trước đội tuyển Tây Đức với tỉ số 3-2 trong trận chung kết.
  • Năm 1990, Ý trở thành quốc gia châu Âu đầu tiên 2 lần đăng cai giải đấu (lần trước là kỳ World Cup 1934). Đội tuyển Tây Đức trở thành đội bóng châu Âu giành chức vô địch lần thứ 3 sau thắng lợi trước đội tuyển Argentina với tỉ số 1-0 trong trận chung kết.
  • Năm 1994, lần đầu tiên Hoa Kỳ đăng cai giải đấu này, Brasil lần thứ 4 đoạt chức vô địch bóng đá thế giới sau thắng lợi trước đội tuyển Ý với tỉ số luân lưu 3-2 (vì hai đội hoà nhau ở hai hiệp thi đấu chính thức và hai hiệp phụ). Đây cũng là lần đầu tiên trận chung kết phải bước vào loạt sút luân lưu. Đây cũng là kỳ World Cup cuối cùng có 24 đội trước khi kỳ World Cup 1998 nâng số đội tuyển tham gia là 32 đội.
  • Năm 1998, Pháp là nước Châu Âu tiếp theo là chủ nhà sau Ý (lần trước là kỳ World Cup 1938). Và đây cũng là kỳ World Cup đầu tiên tăng số đội tham dự lên 32 đội. Pháp trở thành đội bóng chủ nhà châu Âu lần đầu tiên giành chức vô địch sau thắng lợi trước đội tuyển Brazil với tỉ số 3-0 trong trận chung kết.
  • Năm 2002, kỳ World Cup lần đầu tiên trong lịch sử được tổ chức tại châu Á và cũng là lần đầu tiên được tổ chức đồng thời ở hai quốc gia. Đội tuyển Hàn Quốc trở thành đội bóng châu Á lần đầu tiên trong lịch sử lọt vào vòng bán kết của 1 kỳ World Cup. Đội tuyển Nhật Bản có lần đầu tiên trong lịch sử lọt vào vòng 16 đội của 1 kỳ World Cup, nhưng đã để thua trước đội tuyển Thổ Nhĩ Kỳ với tỉ số là 0-1. Còn đội tuyển Pháp trở thành nhà đương kim vô địch thứ 3 bị loại ngay từ vòng bảng. Đội tuyển Brasil lần thứ 5 đoạt chức vô địch sau thắng lợi trước đội tuyển Đức với tỉ số 2-0 trong trận chung kết.
  • Năm 2006, kỳ World Cup lần thứ 2 tổ chức tại Đức (lần trước là kỳ World Cup 1974). Đây cũng là lần thứ tư có 4 đội vào bán kết đều thuộc châu Âu. Và đây cũng là trận chung kết lần thứ 2 phải đá loạt sút luân lưu. Ý trở thành đội bóng châu Âu đầu tiên giành chức vô địch sau thắng lợi trước đội tuyển Pháp với tỉ số 5-3 (sau loạt sút luân lưu) vì hai đội hoà sau 2 hiệp thi đấu chính thức và 2 hiệp phụ với tỉ số 1-1. Đức trở thành quốc gia thứ 3 ở châu Âu lần thứ 2 đăng cai World Cup.
  • Năm 2010, kỳ World Cup lần đầu tiên diễn ra ở châu Phi. Đội tuyển Nam Phi trở thành đội chủ nhà đầu tiên không vượt qua được vòng bảng của một kỳ World Cup. Đôi tuyển Ý trở thành cựu vô địch thứ 4 sau khi bị loại ngay từ vòng bảng. Đội tuyển Tây Ban Nha lần đầu tiên giành chức vô địch sau khi giành chiến thắng trước đội tuyển Hà Lan với tỉ số chung cuộc 1-0 sau 2 hiệp phụ (vì 2 đội hoà nhau ở 2 hiệp thi đấu chính thức với tỉ số 0-0).
  • Năm 2014, Brasil đăng cai giải đấu này lần thứ 2 (lần trước là kỳ World Cup 1950). Giải đấu này được tổ chức tại Nam bán cầu và lần đầu tiên trong lịch sử vòng chung kết, công nghệ goal-line được áp dụng cho tất cả các trận đấu. Đội tuyển Đức trở thành đội bóng châu Âu đầu tiên vô địch trên đất châu Mỹ sau thắng lợi trước đội tuyển Argentina với tỉ số 1-0 ở hiệp phụ. Còn đội tuyển Tây Ban Nha trở thành nhà đương kim vô địch thứ 5 sau khi bị loại ngay ở vòng bảng.
  • Năm 2018, kỳ World Cup lần đầu tiên được tổ chức tại một quốc gia thuộc khu vực Đông Âu và cũng là lần đầu tiên được tổ chức tại một quốc gia thuộc Liên Xô cũ, kỳ World Cup đầu tiên mà công nghệ hỗ trợ trọng tài (VAR) đã được sử dụng. Đội tuyển Đức trở thành cựu vô địch thứ 6 bị loại ngay từ vòng bảng. Đội tuyển chủ nhà Nga có lần đầu tiên trong lịch sử giành quyền vào vòng tứ kết của một kỳ World Cup. Đội tuyển Pháp lần thứ 2 giành chức vô địch (sau kỳ World Cup 1998). Đội tuyển Croatia có lần đầu tiên trong lịch sử lọt vào trận chung kết của một kỳ World Cup, và đây cũng là kỳ World Cup đầu tiên mà đội tuyển Croatia giành giải á quân. Đội tuyển Bỉ có lần đầu tiên giành hạng 3, còn đội tuyển Anh lọt vào top 4 đội mạnh nhất lần thứ 3 (trong đó có kỳ World Cup 1966 mà họ đã giành chức vô địch) và cũng là lần đầu tiên là vào kỳ World Cup 1990. Đáng chú ý là đội tuyển Ý đã từng 4 lần vô địch không tham dự giải vì không vượt qua vòng loại.
  • Năm 2022, kỳ World Cup lần đầu tiên được tổ chức tại một quốc gia thuộc Trung Đông, và cũng là lần đầu tiên được tổ chức tại một quốc gia thuộc Thế giới Ả Rập và được tổ chức vào mùa đông. Là kỳ World Cup áp dụng sự đổi mới về công nghệ như Vạch vôi điện tử Goal-line, Video hỗ trợ trọng tài VAR, đặc biệt có thêm công nghệ Bắt việt vị bán tự động SAOT và công nghệ cảm biến trong trái bóng Al Rihla để theo dõi vị trí quả bóng cùng nhiều thứ khác. Đây là kỳ World Cup lần thứ 2 được tổ chức tại châu Á (sau kỳ World Cup 2002) được tổ chức ở Nhật BảnHàn Quốc. Qatar chính thức trở thành nước chủ nhà thứ 3 của châu Á giành quyền đăng cai World Cup, và cũng là đội chủ nhà thứ hai (sau đội tuyển Nam Phi ở kỳ World Cup 2010) không vượt qua được vòng bảng của một kỳ World Cup. Đội tuyển từng 4 lần vô địch, Ý có lần thứ 2 liên tiếp không vượt vòng loại của giải. Một đội tuyển khác cũng từng 4 lần vô địch là đội tuyển Đức có lần thứ 2 liên tiếp không vượt qua vòng bảng. Đội tuyển Bỉ giành hạng ba World Cup 2018, cũng không vượt qua vòng bảng lần đầu tiên vào năm 1998. Đội tuyển Uruguay 2 lần vô địch bị loại từ vòng bảng sau 20 năm từ World Cup 2002. Đội tuyển Mexico bị loại từ vòng bảng sau 44 năm từ World Cup 1978. Đội tuyển Đan Mạch có lần đầu tiên bị loại ngay từ vòng bảng từ World Cup 2010. Đội tuyển Úc và đội tuyển Hàn Quốc vượt qua vòng bảng lần lượt vào kỳ World Cup 2006 và World Cup 2010. Đội tuyển Bồ Đào Nha có lần đầu tiên dừng bước ở vòng tứ kết, trong khi đó đội tuyển Brasil có lần thứ 2 liên tiếp dừng bước tại vòng này, còn đội tuyển Anh vẫn là đội có nhiều lần thất bại ở tứ kết nhất với 7 lần. Đội tuyển Maroc đi vào lịch sử khi trở thành đội tuyển châu Phi đầu tiên giành quyền vào bán kết của 1 kỳ World Cup. Đội tuyển Croatia, á quân World Cup 2018 có lần thứ 2 giành hạng 3 sau kỳ World Cup 1998. Đây cũng là kỳ World Cup cuối cùng có 32 đội tham dự trước khi kỳ World Cup 2026 sẽ nâng số đội tuyển tham gia là 48 đội. Đội tuyển Argentina lần thứ ba giành chức vô địch (sau kỳ World Cup 1978World Cup 1986) sau khi vượt qua đương kim vô địch Pháp với tỉ số 4-2 ở loạt sút luân lưu 11m (3-3 sau hiệp phụ).
  • Năm 2026, số đội tham dự tăng lên thành 48 đội, lần đầu tiên tổ chức ở 3 quốc gia và México trở thành quốc gia đầu tiên của Bắc Mỹ 3 lần làm chủ nhà giải đấu (lần trước là kỳ World Cup 1970World Cup 1986), Hoa Kỳ lần thứ hai đăng cai giải đấu (lần trước là kỳ World Cup 1994) và lần đầu tiên Canada tổ chức giải đấu. Đội tuyển Tây Ban Nha lần thứ hai giành chức vô địch sau khi giành chiến thắng trước đương kim vô địch Argentina với tỉ số chung cuộc 1-0 sau 2 hiệp phụ (vì 2 đội hoà nhau ở 2 hiệp thi đấu chính thức với tỉ số 0-0).
BERJAYA
Cúp Jules Rimet, được dùng để trao cho đội vô địch từ kỳ World Cup 1930 đến 1970

Từ năm 1930 đến 1970, Cúp Jules Rimet đã được trao cho đội vô địch World Cup. Ban đầu nó được gọi đơn giản là World Cup hoặc Coupe du Monde, nhưng vào năm 1946, nó được đổi tên sau khi chủ tịch FIFA Jules Rimet thành lập giải đấu. Từ năm 1970 trở về trước, đội vô địch thế giới được trao "cúp vàng" mà trong các văn kiện chính thức của FIFA gọi là "vật phẩm nghệ thuật". Đó là bức tượng nhỏ hình "Nữ thần chiến thắng Nike" (theo thần thoại Hy Lạp) mà trong giới bóng đá thường gọi là tượng "Nữ thần vàng". Theo đơn đặt hàng của FIFA, chiếc tượng này được hoàn thành năm 1928 do một người thợ kim hoàn ở Paris tên là Abel Lafleur đúc bằng vàng thật, nặng 1,8 kg (với chiếc đế bằng đá hoa cương nặng chừng 4 kg), trị giá 10.000 USD.

BERJAYA
Chiếc cúp hiện tại (do Pháp vô địch, được cầm bởi Ousmane Dembélé năm 2018) đã được trao từ năm 1974

Trước Giải thế giới năm 1970, FIFA giữ "Cup vàng" theo điều lệ quy định để rồi trao cho liên đoàn bóng đá quốc gia thuộc nước có đội bóng đoạt chức vô địch thế giới rồi trả lại cho FIFA trước khi tiến hành vòng chung kết Giải vô địch bóng đá thế giới lần sau.

Năm 1970, sau 3 lần vô địch, như trong điều lệ quy định, đội Brasil đã được trao tặng vĩnh viễn "Nữ thần vàng". Tuy nhiên, chiếc cúp đã bị đánh cắp vào năm 1983 và chưa bao giờ được tìm lại, dường như đã bị những tên trộm nấu chảy.[46] Sau giải năm đó, FIFA đặt làm chiếc cúp mới lấy tên là Cúp thế giới FIFA. Chiếc cúp này là cúp luân lưu, không đội bóng nào có thể đoạt vĩnh viễn cả. Những đội bóng vô địch sẽ được trao tặng chiếc cúp mẫu thu nhỏ để làm kỷ niệm cùng với việc được giữ chiếc cúp chính thức trong thời gian giữa 2 giải vô địch bóng đá thế giới.[47] Chiếc cúp mới được đúc bằng vàng thật do nghệ sĩ người Ý Silvio Gazzaniga sáng tác, sau khi vượt qua 53 nghệ nhân để trở thành người thắng cuộc, với chiều cao 36,5 cm được làm bằng vàng nguyên khối 18 carat (75%), nặng 6,175 kg,[48] trị giá 20.000 USD. Cúp này do người thợ kim hoàn Stabilimento Artistico Bertoni ở thành phố Milano đúc. Chiếc cúp mang hình 2 thanh niên với 4 cánh tay giơ cao đỡ lấy quả Địa Cầu.[49] Phần kim loại của chiếc cúp hiện nay là 4,9 kg "vàng nguyên khối 18 carat" và có 2 lớp đá malachit trong khi mặt dưới của chiếc cúp khắc tên của những quốc gia vô địch giải vô địch bóng đá thế giới kể từ năm 1974.[50] Mô tả về chiếc cúp của Gazzaniga là: "Những đường thẳng xuất phát từ dưới, vươn lên theo hình xoắn ốc, vươn ra để tiếp nhận thế giới. Từ những đường nét đáng chú ý của cơ thể được điêu khắc, bức tượng nổi lên với khoảnh khắc chiến thắng."[51]

Hiện tại, tất cả các thành viên (cầu thủ, huấn luyện viên và người quản lý) của ba đội hàng đầu giải đấu đều nhận được huy chương với một huy hiệu của Cúp vô địch bóng đá thế giới; quán quân (vàng), á quân (bạc) và hạng ba (đồng). Trong World Cup 2002, huy chương vị trí thứ tư đã được trao cho chủ nhà Hàn Quốc. Trước giải đấu năm 1978, huy chương chỉ được trao cho mười một cầu thủ trên sân trong trận chung kết và trận tranh hạng ba. Vào tháng 11 năm 2007, FIFA đã thông báo rằng tất cả các thành viên của đội tuyển vô địch World Cup từ năm 1930 đến năm 1974 sẽ được trao lại huy chương.[52][53][54]

Thể thức

[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng loại

[sửa | sửa mã nguồn]

Kể từ kỳ World Cup thứ hai vào năm 1934, vòng loại đã được tổ chức để chọn ra các ứng viên đủ điều kiện cho vòng chung kết.[55] Vòng loại được tổ chức trong sáu khu vực (Châu Phi, Châu Á, Bắc, Trung MỹCaribbean, Nam Mỹ, Châu Đại DươngChâu Âu), được giám sát bởi các liên đoàn của họ. Đối với mỗi giải đấu, FIFA quyết định số suất tham dự được trao cho từng khu vực lục địa trước đó, thường dựa trên sức mạnh và thành tích quốc tế của các đội trong liên đoàn.

Vòng loại có thể bắt đầu sớm nhất là gần ba năm trước khi vòng chung kết diễn ra và kéo dài trong khoảng thời gian hai năm. Thông thường, một hoặc hai suất được trao cho những đội chiến thắng trong trận play-off liên lục địa. Ví dụ, đội vượt qua vòng loại ở khu vực Châu Đại Dương và đội đứng thứ năm ở vòng loại khu vực châu Á đã đối đầu với nhau ở trận play-off cho một suất tham dự World Cup 2010.[56] Từ World Cup 1938 trở đi, các quốc gia chủ nhà không cần phải đá vòng loại để tham dự vòng chung kết như các đội khác. Quyền này cũng được trao cho các nhà đương kim vô địch từ năm 1938 đến 2002, nhưng đã bị xóa bỏ kể từ World Cup 2006 trở đi, đòi hỏi các nhà đương kim vô địch phải vượt qua vòng loại để tham dự giải kế tiếp. Brazil, quốc gia vô địch năm 2002, là nhà vô địch thế giới đầu tiên chơi các trận đấu vòng loại để tham dự World Cup 2006.[57]

Vòng chung kết

[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ nhà

[sửa | sửa mã nguồn]

Tiến trình lựa chọn

[sửa | sửa mã nguồn]
BERJAYA
Bản đồ các nước chủ nhà của vòng chung kết Giải vô địch bóng đá thế giới từ năm 1930 đến 2026: 3 lần2 lần1 lầnCòn trong kế hoạchHủy bỏ – Chấm vuông vàng: nơi tổ chức trận khai mạc-bế mạc – Đường nối 2 dấu chấm vàng: tổ chức tại các nơi trong 1 kỳ World Cup.

Các kỳ World Cup đầu tiên, quyền đăng cai được trao cho các quốc gia tại các cuộc họp của đại hội FIFA. Các địa điểm đã gây tranh cãi bởi vì Nam Mỹchâu Âu cho đến nay là hai trung tâm sức mạnh trong bóng đá và chuyến đi giữa họ cần ba tuần bằng thuyền. Chẳng hạn, quyết định tổ chức World Cup đầu tiên ở Uruguay, dẫn đến chỉ có bốn quốc gia châu Âu thi đấu.[58] Hai kỳ World Cup tiếp theo đều được tổ chức ở châu Âu. Quyết định tiếp tục chọn Châu Âu và tổ chức ở Pháp đã bị tranh cãi, vì các nước Nam Mỹ hiểu rằng vị trí này sẽ tiếp tục xen giữa Đại Tây Dương. Do đó, cả ArgentinaUruguay đều tẩy chay Giải vô địch bóng đá thế giới 1938.[59]

Kể từ Giải vô địch bóng đá thế giới 1958, để tránh những cuộc tẩy chay hoặc tranh cãi, FIFA đã bắt đầu một mô hình xen kẽ các đội chủ nhà giữa châu Mỹchâu Âu, tiếp tục cho đến Giải vô địch bóng đá thế giới 1998. Giải vô địch bóng đá thế giới 2002, được tổ chức bởi Hàn QuốcNhật Bản, là lần đầu tiên được tổ chức ở châu Á và là giải đấu đầu tiên có nhiều hơn một nước chủ nhà.[60] Nam Phi trở thành quốc gia châu Phi đầu tiên đăng cai Giải vô địch bóng đá thế giới 2010. Giải vô địch bóng đá thế giới 2014 được tổ chức bởi Brazil, lần đầu tiên được tổ chức tại Nam Mỹ kể từ Argentina năm 1978[61] và là lần đầu tiên World Cup liên tiếp được tổ chức ở bên ngoài Châu Âu.

BERJAYA
Các đại biểu Nga ăn mừng khi được chọn là chủ nhà của Giải vô địch bóng đá thế giới 2018.

Nước chủ nhà hiện được chọn trong một cuộc bỏ phiếu của Hội đồng FIFA. Điều này được thực hiện theo một hệ thống bỏ phiếu toàn diện. Hiệp hội bóng đá quốc gia của một quốc gia mong muốn tổ chức sự kiện này nhận được "Thỏa thuận" từ FIFA, giải thích các bước và yêu cầu. Hiệp hội cũng nhận được một hình thức bằng cách đệ trình đại diện để chính thức ứng cử. Sau đó, một nhóm thanh tra được FIFA chỉ định đến xem xét đất nước để xác định rằng quốc gia này có đáp ứng các yêu cầu cần thiết để tổ chức sự kiện và một báo cáo về quốc gia này được đưa ra. Quyết định về việc ai sẽ tổ chức World Cup thường được đưa ra sáu hoặc bảy năm trước giải đấu. Tuy nhiên, đã có những lần chủ nhà của nhiều giải đấu trong tương lai được công bố cùng một lúc, như trường hợp của World Cup 2018 và 2022, được trao cho NgaQatar, với việc Qatar trở thành quốc gia Trung Đông đầu tiên đăng cai giải đấu.[62][63]

Đối với World Cup 2010 và 2014, giải đấu cuối cùng được luân chuyển giữa các liên đoàn, chỉ cho phép các quốc gia từ liên đoàn được chọn (Châu Phi năm 2010, Nam Mỹ vào năm 2014) để tổ chức giải đấu. Chính sách xoay vòng được đưa ra sau cuộc tranh cãi xung quanh chiến thắng của Đức trước Nam Phi trong cuộc bỏ phiếu để tổ chức giải đấu năm 2006. Tuy nhiên, chính sách xoay vòng lục địa sẽ không tiếp tục sau năm 2014, do đó, bất kỳ quốc gia nào, ngoại trừ những quốc gia thuộc liên đoàn đã tổ chức hai giải đấu trước đó, đều có thể đăng ký làm chủ nhà cho World Cup bắt đầu từ năm 2018.[64] Điều này một phần để tránh một kịch bản tương tự như quá trình đấu thầu cho giải đấu năm 2014, nơi Brazil là nhà thầu chính thức và duy nhất.[65]

Giải vô địch bóng đá thế giới 2026 đã được chọn để tổ chức tại Hoa Kỳ, CanadaMéxico, đánh dấu lần đầu tiên một World Cup được chia sẻ bởi ba quốc gia chủ nhà.[66] Giải đấu năm 2026 sẽ là World Cup lớn nhất từng được tổ chức, với 48 đội thi đấu tổng cộng 104 trận. 78 trận đấu sẽ diễn ra ở Mỹ, bao gồm tất cả các trận đấu từ vòng tứ kết trở đi, trong khi Canada và Mexico, mỗi nước sẽ tổ chức 13 trận đấu.[66]

Thành tích

[sửa | sửa mã nguồn]

Sáu trong số tám nhà vô địch hiện tại đã giành được một trong những danh hiệu World Cup khi thi đấu trên chính quê hương của mình, ngoại lệ là Brazil, đội đã đứng vị trí á quân sau khi thua trận đấu quyết định trên sân nhà vào năm 1950 cũng như thua trận bán kết với Đức vào năm 2014Tây Ban Nha khi chỉ lọt vào vòng hai trên sân nhà vào năm 1982. Anh (1966) đã giành được danh hiệu duy nhất của mình khi chơi với tư cách là một quốc gia chủ nhà. Uruguay (1930), Ý (1934), Argentina (1978) và Pháp (1998) đã giành được những danh hiệu đầu tiên với tư cách là quốc gia chủ nhà, trong khi Đức (1974) giành được danh hiệu World Cup thứ hai khi chơi trên sân nhà.[67]

Các quốc gia khác cũng đã thành công khi tổ chức giải đấu. Thụy Sĩ (tứ kết 1954), Thụy Điển (á quân năm 1958), Chile (vị trí thứ ba năm 1962), Hàn Quốc (vị trí thứ tư năm 2002), Nga (tứ kết năm 2018) và Mexico (tứ kết năm 19701986) đều có kết quả tốt nhất khi là chủ nhà. Cho đến nay, Nam Phi (2010) và Qatar (2022) là hai quốc gia chủ nhà thất bại trong việc vượt qua vòng bảng.[68]

Các kỷ lục và thống kê

[sửa | sửa mã nguồn]
BERJAYA
Lionel Messi đã ra sân 34 lần tại 6 vòng chung kết World Cup liên tiếp.

Sáu cầu thủ có số lần tham dự các vòng chung kết World Cup nhiều nhất[69]Antonio Carbajal (1950-1966), Rafael Márquez (2002-2018) và Andrés Guardado (2006-2022) cùng đến từ Mexico; cựu đội trưởng đội tuyển CHLB Đức Lothar Matthäus (1982-1998);[70] đội trưởng đội tuyển Argentina Lionel Messi và người đồng cấp Bồ Đào Nha Cristiano Ronaldo (2006-2022). Messi cũng là người chơi nhiều trận nhất với tổng cộng 31 lần được ra sân.[71] Huyền thoại Pelé là người duy nhất 3 lần vô địch World Cup với tư cách cầu thủ.[72] Djalma Santos của Brazil (1954-1962), Franz Beckenbauer (1966-1974) của Tây ĐứcPhilipp Lahm của Đức (2006-2014) là những cầu thủ duy nhất được ghi tên ba lần trong Đội hình Tiêu biểu.[73] Ở cùng vị trí thứ 4 là trung phong huyền thoại người Pháp Just Fontaine. Đặc biệt hơn, Fontaine còn giữ kỷ lục về số bàn thắng ghi được tại một kỳ World Cup, với thành tích 13 bàn ghi được tại giải năm 1958.[74]

Vào tháng 11 năm 2007, FIFA đã thông báo rằng tất cả các thành viên của đội tuyển vô địch World Cup từ năm 1930 đến năm 1974 sẽ được trao lại huy chương vô địch. Điều này khiến huyền thoại Pelé của Brazil trở thành cầu thủ duy nhất giành được ba huy chương của đội vô địch World Cup (1958, 1962 và 1970, mặc dù ông không chơi trong trận chung kết năm 1962 vì chấn thương).[75] Bảy cầu thủ đã thu thập tất cả ba loại huy chương World Cup (vàng, bạc và đồng): năm cầu thủ đến từ đội hình 1966-1974 bao gồm Franz Beckenbauer, Jürgen Grabowski, Horst-Dieter Höttges, Sepp Maier và Wolfgang Overath (1966-1974); Franco Baresi của Ý (1982, 1990, 1994) và gần đây nhất là Miroslav Klose của Đức (2002-2014) với bốn huy chương liên tiếp.[76] Miroslav Klose cũng chính là cầu thủ nhận được huy chương World Cup nhiều nhất (1 vàng, 1 bạc, 2 đồng). Anh cũng là cầu thủ duy nhất có tất cả các loại huy chương và luôn có huy chương ở tất cả các kỳ World Cup tham gia.

Mário Zagallo, Franz BeckenbauerDidier Deschamps là ba người đồng thời vô địch World Cup với tư cách cầu thủ và huấn luyện viên. Zagallo vô địch các giải năm 19581962 khi còn đang thi đấu rồi giải năm 1970 khi chuyển sang vai trò huấn luyện viên.[77] Beckenbauer vô địch giải năm 1974 khi đeo băng đội trưởng đội tuyển Tây Đức và giải năm 1990 với huấn luyện viên trưởng.[78], Didier Deschamps vô địch vào năm 1998 khi là cầu thủ và năm 2018 khi làm huấn luyện viên.[79] Còn huấn luyện viên tuyển Ý Vittorio Pozzo là người duy nhất từng hai lần giành ngôi vô địch trên ghế chỉ đạo (1934 và 1938).[80] Tất cả các huấn luyện viên trưởng giành chức vô địch World Cup đều là người xuất thân từ đất nước có đội tuyển giành danh hiệu này.[81]

Tính đến hết World Cup 2022, Brasil đã chơi nhiều trận World Cup nhất với 114 trận, theo sau là Đức với 112 trận. Hai đội gặp nhau lần đầu tiên trong lịch sử thi đấu tại giải ở trận chung kết năm 2002. Đức góp mặt ở nhiều trận chung kết (8 lần), bán kết (13 lần), và tứ kết nhất (16 lần), trong khi Brazil tham dự nhiều vòng chung kết nhất (22 lần), thắng nhiều trận nhất (76 trận), và ghi được nhiều bàn thắng nhất (237 bàn).[82][83] Hai đội đã đối đầu hai lần tại World Cup, trong trận chung kết năm 2002 và bán kết năm 2014.[84]

Giải vô địch bóng đá thế giới gần như là sân chơi riêng cho các đội bóng Nam Mỹ và châu Âu khẳng định sự thống trị tuyệt đối trong làng túc cầu thế giới bởi vì cho đến nay thì chưa có đội bóng nào ngoài châu Âu và Nam Mỹ có vinh dự được nâng cao chiếc cúp vàng danh giá. Tuy nhiên chưa có đội bóng châu Âu nào vô địch World Cup khi giải đấu được đăng cai tại châu Á.

Top ghi bàn xuất sắc nhất

[sửa | sửa mã nguồn]
BERJAYA
Kylian Mbappé là người ghi bàn nhiều nhất tại FIFA World Cup với 22 bàn thắng.
BERJAYA
Cristiano Ronaldo là cầu thủ đầu tiên và duy nhất ghi bàn ở sáu giải đấu khác nhau trong lịch sử FIFA World Cup.
Cầu thủ

Các cầu thủ được in đậm là những cầu thủ vẫn đang thi đấu cho đội tuyển quốc gia

Xếp hạng Cầu thủ Bàn thắng Số trận
1 Pháp Kylian Mbappé 22 22
2 Argentina Lionel Messi 21 34
3 Đức Miroslav Klose 16 24
4 Brasil Ronaldo 15 19
5 Tây Đức Gerd Müller 14 13
Anh Harry Kane 18
7 Pháp Just Fontaine 13 6
8 Brasil Pelé 12 14
9 Đức Jürgen Klinsmann 11 17
Hungary Sándor Kocsis 5
Bồ Đào Nha Cristiano Ronaldo 27
Quốc gia
Hạng Đội tuyển Số bàn thắng ghi được
1BERJAYA Brasil247
2BERJAYA Đức243
3BERJAYA Argentina171
4BERJAYA Pháp156
5BERJAYA Ý128
6BERJAYA Anh124
7BERJAYA Tây Ban Nha122
8BERJAYA Hà Lan107
9BERJAYA Uruguay92
10 BERJAYA Hungary 87
BERJAYA Thụy Điển

Khán giả

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Chủ nhà Địa điểm/
Thành phố
Tổng số
khán giả
Các trận đấu TB khán giả Khán giả cao nhất
Con số † Địa điểm † Các trận †
1930BERJAYA Uruguay3/1590.5491832.80893.000Sân vận động Centenario, MontevideoUruguay 6–1 Nam Tư, Bán kết
1934BERJAYA Ý8/8363.0001721.35355.000Sân vận động Nazionale PNF, RomaÝ 2–1 Tiệp Khắc, Chung kết
1938BERJAYA Pháp10/9375.7001820.87258.455Olympic Colombes, ParisPháp 1–3 Ý, Tứ kết
1950BERJAYA Brasil6/61.045.2462247.511173.850[85]Sân vận động Maracanã, Rio de JaneiroBrasil 1–2 Uruguay, Trận đấu quyết định
1954BERJAYA Thụy Sĩ768.6072629.56263.000Sân vận động Wankdorf, BernTây Đức 3–2 Hungary, Chung kết
1958BERJAYA Thụy Điển12/12819.8103523.42350.928Ullevi, GöteborgBrasil 2–0 Liên Xô, Vòng bảng
1962BERJAYA Chile4/4893.1723227.91268.679Sân vận động Quốc gia, SantiagoBrasil 4–2 Chile, Bán kết
1966BERJAYA Anh8/71.563.13548.84898.270Sân vận động Wembley, Luân ĐônAnh 4–2 Tây Đức, Chung kết
1970BERJAYA México5/51.603.97550.124108.192Sân vận động Azteca, Thành phố MéxicoMéxico 1–0 Bỉ, Vòng bảng
1974BERJAYA Tây Đức9/91.865.7533849.09983.168Sân vận động Olympic, Tây BerlinTây Đức 1–0 Chile, Vòng bảng
1978BERJAYA Argentina6/51.545.79140.67971.712Sân vận động River Plate, Buenos AiresÝ 1–0 Argentina, Vòng bảng
1982BERJAYA Tây Ban Nha17/142.109.7235240.57295.500Camp Nou, BarcelonaArgentina 0–1 Bỉ, Trận mở màn
1986BERJAYA México12/112.394.03146.039114.600Sân vận động Azteca, Thành phố MéxicoMéxico 1–1 Paraguay, Vòng bảng
Argentina 3–2 Tây Đức, Chung kết
1990BERJAYA Ý12/122.516.21548.38974.765San Siro, MilanTây Đức 4–1 Nam Tư, Vòng bảng
1994BERJAYA Hoa Kỳ9/93.587.53868.99194.194Rose Bowl, Pasadena, CaliforniaBrasil 0(3)–(2)0 Ý, Chung kết
1998BERJAYA Pháp10/102.785.1006443.51780.000Stade de France, Saint-DenisBrasil 0–3 Pháp, Chung kết
2002BERJAYA Hàn Quốc
BERJAYA Nhật Bản
2.705.19742.26969.029Sân vận động Quốc tế, Yokohama, Nhật BảnBrasil 2–0 Đức, Chung kết
2006BERJAYA Đức12/123.359.43952.49172.000Sân vận động Olympic, BerlinĐức 1(4)–(2)1 Argentina, Tứ kết
2010BERJAYA Nam Phi10/93.178.85649.67084.490Soccer City, JohannesburgTây Ban Nha 1–0 Hà Lan, Chung kết
2014BERJAYA Brasil12/123.429.87353.59274.738Sân vận động Maracanã, Rio de JaneiroĐức 1–0 Argentina, Chung kết
2018BERJAYA Nga12/113.031.76847.37178.011Sân vận động Luzhniki, MoskvaPháp 4–2 Croatia, Chung kết
2022BERJAYA Qatar8/53.404.25253.19188.966Sân vận động Lusail Iconic, LusailArgentina 3(4)-(2)3 Pháp, Chung kết
Tổng cộng43.936.73090048.819171.772Sân vận động Maracanã, Rio (1950)

dagger Trận đấu duy nhất được khán giả nhiều nhất, được hiển thị trong ba cột cuối cùng, đã được trận chung kết trong một nửa của 20 kỳ Cúp Thế giới tính đến năm 2014. Một trận đấu khác hoặc các trận đấu đã thu hút khán giả nhiều nhất so với trận chung kết vào các năm 1930, 1938, 1958, 1962, 1970–1982, 1990 và 2006.

Phát sóng và quảng bá

[sửa | sửa mã nguồn]
BERJAYA
Trung tâm phát sóng quốc tế của FIFA cho hệ thống truyền hình tại Johannesburg, Nam Phi ở giải World Cup 2010.
BERJAYA
Một chai Coca-Cola quảng bá World Cup 2002 tại Hàn QuốcNhật Bản.

Giải vô địch bóng đá thế giới được truyền hình trực tiếp lần đầu tiên vào năm 1954 và hiện là sự kiện thể thao được xem và theo dõi rộng rãi nhất trên thế giới. Lượng người xem tích lũy của tất cả các trận đấu của World Cup 2006 ước tính là 26,29 tỷ.[1] 715,1 triệu người đã theo dõi trận đấu cuối cùng của giải đấu này (một phần chín của toàn bộ dân số trên hành tinh). Lễ bốc thăm World Cup 2006, quyết định phân chia các đội thành các bảng, được theo dõi bởi 300 triệu người xem.[87] Giải vô địch bóng đá thế giới thu hút nhiều nhà tài trợ như Coca-Cola, McDonald'sAdidas. Đối với các công ty này và nhiều công ty khác, việc trở thành nhà tài trợ tác động mạnh mẽ đến các thương hiệu toàn cầu của họ. Các nước chủ nhà thường có sự gia tăng doanh thu hàng triệu đô la từ sự kiện kéo dài một tháng. Cơ quan quản lý môn thể thao này, FIFA đã tạo ra doanh thu 4,8 tỷ đô la từ giải đấu năm 2014 và 6,1 tỷ đô la từ giải đấu năm 2018.[88]

Mỗi giải vô địch bóng đá thế giới kể từ năm 1966 đều có linh vật hoặc/và logo riêng. World Cup Willie, linh vật cho cuộc thi năm 1966, là linh vật World Cup đầu tiên.[89] World Cup có các quả bóng thi đấu chính thức được thiết kế đặc biệt cho mỗi giải đấu.[90] Mỗi giải vô địch bóng đá thế giới cũng có một bài hát chính thức, được trình diễn bởi các nghệ sĩ từ Shakira đến Will Smith.[91][92]

Thiết lập quan hệ đối tác với FIFA vào năm 1970, Panini đã xuất bản album sticker đầu tiên cho World Cup 1970.[93] Kể từ đó, thu thập và giao dịch nhãn dán đã trở thành một phần của trải nghiệm World Cup, đặc biệt là cho thế hệ trẻ.[94] FIFA cũng đã cấp phép các video game World Cup từ năm 1986, với Electronic Arts, công ty giữ giấy phép hiện tại.[93]

World Cup thậm chí còn có ảnh hưởng đáng kể về mặt thống kê đối với tỷ lệ sinh, tỷ lệ giới tính nam/nữ của trẻ sơ sinh và bệnh đau tim ở các quốc gia có các đội tuyển quốc gia đang thi đấu.[95][96][97]

Kết quả

[sửa | sửa mã nguồn]
Lần Năm Chủ nhà Chung kết Tranh hạng ba Số đội
Vô địch Tỷ số Á quân Hạng ba Tỷ số Hạng tư
1 1930 BERJAYA Uruguay BERJAYA
Uruguay
4–2 BERJAYA
Argentina
BERJAYA
Hoa Kỳ
[a] BERJAYA
Nam Tư
13
2 1934 BERJAYA Ý BERJAYA
Ý
2–1 (s.h.p.) BERJAYA
Tiệp Khắc
BERJAYA
Đức
3–2 BERJAYA
Áo
16
3 1938 BERJAYA Pháp BERJAYA
Ý
4–2 BERJAYA
Hungary
BERJAYA
Brasil
4–2 BERJAYA
Thụy Điển
15[b]
1942 Không tổ chức vì ảnh hưởng của Thế chiến 2.
1946
4 1950 BERJAYA Brasil BERJAYA
Uruguay
2–1[note 1] BERJAYA
Brasil
BERJAYA
Thụy Điển
3–1[note 2] BERJAYA
Tây Ban Nha
13[note 3]
5 1954 BERJAYA Thụy Sĩ BERJAYA
Tây Đức
3–2 BERJAYA
Hungary
BERJAYA
Áo
3–1 BERJAYA
Uruguay
16
6 1958 BERJAYA Thụy Điển BERJAYA
Brasil
5–2 BERJAYA
Thụy Điển
BERJAYA
Pháp
6–3 BERJAYA
Tây Đức
16
7 1962 BERJAYA Chile BERJAYA
Brasil
3–1 BERJAYA
Tiệp Khắc
BERJAYA
Chile
1–0 BERJAYA
Nam Tư
16
8 1966 BERJAYA Anh BERJAYA
Anh
4–2 (s.h.p.) BERJAYA
Tây Đức
BERJAYA
Bồ Đào Nha
2–1 BERJAYA
Liên Xô
16
9 1970 BERJAYA México BERJAYA
Brasil
4–1 BERJAYA
Ý
BERJAYA
Tây Đức
1–0 BERJAYA
Uruguay
16
10 1974 BERJAYA Tây Đức BERJAYA
Tây Đức
2–1 BERJAYA
Hà Lan
BERJAYA
Ba Lan
1–0 BERJAYA
Brasil
16
11 1978 BERJAYA Argentina BERJAYA
Argentina
3–1 (s.h.p.) BERJAYA
Hà Lan
BERJAYA
Brasil
2–1 BERJAYA
Ý
16
12 1982 BERJAYA Tây Ban Nha BERJAYA
Ý
3–1 BERJAYA
Tây Đức
BERJAYA
Ba Lan
3–2 BERJAYA
Pháp
24
13 1986 BERJAYA México BERJAYA
Argentina
3–2 BERJAYA
Tây Đức
BERJAYA
Pháp
4–2 BERJAYA
Bỉ
24
14 1990 BERJAYA Ý BERJAYA
Tây Đức
1–0 BERJAYA
Argentina
BERJAYA
Ý
2–1 BERJAYA
Anh
24
15 1994 BERJAYA Hoa Kỳ BERJAYA
Brasil
0–0 (s.h.p.)
(3–2 p)
BERJAYA
Ý
BERJAYA
Thụy Điển
4–0 BERJAYA
Bulgaria
24
16 1998 BERJAYA Pháp BERJAYA
Pháp
3–0 BERJAYA
Brasil
BERJAYA
Croatia
2–1 BERJAYA
Hà Lan
32
17 2002 BERJAYA Hàn Quốc
BERJAYA Nhật Bản
BERJAYA
Brasil
2–0 BERJAYA
Đức
BERJAYA
Thổ Nhĩ Kỳ
3–2 BERJAYA
Hàn Quốc
32
18 2006 BERJAYA Đức BERJAYA
Ý
1–1 (s.h.p.)
(5–3 p)
BERJAYA
Pháp
BERJAYA
Đức
3–1 BERJAYA
Bồ Đào Nha
32
19 2010 BERJAYA Nam Phi BERJAYA
Tây Ban Nha
1–0 (s.h.p.) BERJAYA
Hà Lan
BERJAYA
Đức
3–2 BERJAYA
Uruguay
32
20 2014 BERJAYA Brasil BERJAYA
Đức
1–0 (s.h.p.) BERJAYA
Argentina
BERJAYA
Hà Lan
3–0 BERJAYA
Brasil
32
21 2018 BERJAYA Nga BERJAYA
Pháp
4–2 BERJAYA
Croatia
BERJAYA
Bỉ
2–0 BERJAYA
Anh
32
22 2022 BERJAYA Qatar BERJAYA
Argentina
3–3 (s.h.p.)
(4–2 p)
BERJAYA
Pháp
BERJAYA
Croatia
2–1 BERJAYA
Maroc
32
23 2026 BERJAYA Canada
BERJAYA Hoa Kỳ
BERJAYA México
BERJAYA
Tây Ban Nha
1–0 (s.h.p.) BERJAYA
Argentina
BERJAYA
Anh
6–4 BERJAYA
Pháp
48
  • s.h.p.: sau hiệp phụ
  • p: sau loạt đá luân lưu
  • TBD: chưa xác định
Ghi chú
  1. Không có trận chung kết chính thức ở World Cup 1950.[98] Đội vô địch giải đấu đã được xác định thông qua vòng chung kết gồm bốn đội tranh tài (Uruguay, Brasil, Thụy Điển và Tây Ban Nha). Một trong hai trận đấu cuối cùng của giải đấu là cuộc đọ sức giữa hai đội đứng đầu (và là hai đội duy nhất có thể giành chức vô địch), trận đấu còn lại là cuộc đối đầu giữa hai đội đứng cuối. Uruguay gặp Brasil được xem là trận chung kết thực tế của World Cup 1950.
  2. Không có trận tranh hạng ba chính thức ở World Cup 1950. FIFA hiện công nhận Thụy Điển là đội đứng thứ ba và Tây Ban Nha là đội đứng thứ tư, sử dụng thành tích chung cuộc của các đội tại giải đấu.
  3. Chỉ có 13 đội thi đấu tại Giải vô địch bóng đá thế giới 1950.[98] Ban đầu có 16 đội tham gia vào việc bốc thăm các bảng đấu. Tuy nhiên, cả Thổ Nhĩ Kỳ và Scotland đều đã rút lui trước khi bốc thăm. Pháp (bị loại tại vòng loại) đã được mời thay thế, giải đấu được tổ chức với 15 đội. Sau khi bốc thăm, cả Ấn Độ và Pháp đều đã rút lui, vì vậy giải chỉ còn 13 đội tham dự.

Đã có 82 đội tuyển quốc gia đã tham dự ít nhất một kỳ World Cup.[c] Trong số này, có tám đội tuyển quốc gia đã giành chức vô địch World Cup, và các đội này đã thêm ngôi sao vào biểu trưng của mình, mỗi ngôi sao đại diện cho một lần vô địch thế giới. Tuy nhiên, biểu trưng của đội tuyển quốc gia Uruguay lại xuất hiện bốn ngôi sao, trong đó hai ngôi sao tượng trưng cho hai chức vô địch thế giới vào các năm 1930 và 1950, hai ngôi sao còn lại tượng trưng cho hai tấm huy chương vàng tại Thế vận hội Mùa hè 1924 và 1928.

Với năm lần vô địch, Brasil là đội tuyển thành công nhất trong lịch sử World Cup và cũng là quốc gia duy nhất đã tham dự tất cả các kỳ World Cup (22 lần) cho đến nay.[103] Brasil cũng là đội tuyển đầu tiên giành chức vô địch World Cup lần thứ ba (1970), thứ tư (1994) và thứ năm (2002). Ý (1934 và 1938) và Brasil (1958 và 1962) là 2 quốc gia duy nhất đã từng bảo vệ thành công ngôi vô địch. Tây Đức (1982–1990) và Brasil (1994–2002) là các quốc gia duy nhất xuất hiện trong ba trận chung kết World Cup liên tiếp. Đức đã vào được bán kết 13 lần, có 12 lần giành huy chương và là đội lọt vào chung kết nhiều nhất (8 lần).

BERJAYA
Bản đồ các kết quả tốt nhất của các quốc gia

Các đội tuyển từng lọt vào top bốn đội mạnh nhất

[sửa | sửa mã nguồn]
Đội Vô địch Á quân Hạng ba Hạng tư
BERJAYA Brasil 5 (1958, 1962, 1970, 1994, 2002) 2 (1950*, 1998) 2 (1938, 1978) 2 (1974, 2014)
BERJAYA Đức^ 4 (1954, 1974*, 1990, 2014) 4 (1966, 1982, 1986, 2002) 4 (1934, 1970, 2006*, 2010) 1 (1958)
BERJAYA Ý 4 (1934*, 1938, 1982, 2006) 2 (1970, 1994) 1 (1990*) 1 (1978)
BERJAYA Argentina 3 (1978*, 1986, 2022) 4 (1930, 1990, 2014, 2026)
BERJAYA Pháp 2 (1998*, 2018) 2 (2006, 2022) 2 (1958, 1986) 2 (1982, 2026)
BERJAYA Uruguay 2 (1930*, 1950) 3 (1954, 1970, 2010)
BERJAYA Tây Ban Nha 2 (2010, 2026) 1 (1950)
BERJAYA Anh 1 (1966*) 1 (2026) 2 (1990, 2018)
BERJAYA Hà Lan 3 (1974, 1978, 2010) 1 (2014) 1 (1998)
BERJAYA Tiệp Khắc# 2 (1934, 1962)
BERJAYA Hungary 2 (1938, 1954)
BERJAYA Thụy Điển 1 (1958*) 2 (1950, 1994) 1 (1938)
BERJAYA Croatia 1 (2018) 2 (1998, 2022)
BERJAYA Ba Lan 2 (1974, 1982)
BERJAYA Áo 1 (1954) 1 (1934)
BERJAYA Bồ Đào Nha 1 (1966) 1 (2006)
BERJAYA Bỉ 1 (2018) 1 (1986)
BERJAYA Hoa Kỳ 1 (1930)
BERJAYA Chile 1 (1962*)
BERJAYA Thổ Nhĩ Kỳ 1 (2002)
BERJAYA Nam Tư# 2 (1930, 1962)
BERJAYA Liên Xô# 1 (1966)
BERJAYA Bulgaria 1 (1994)
BERJAYA Hàn Quốc 1 (2002*)
BERJAYA Maroc 1 (2022)
* = Chủ nhà
^ = Bao gồm cả thành tích của Tây Đức từ năm 1954 đến năm 1990
# = Quốc gia đã chia tách thành các quốc gia độc lập nhỏ hơn[c]

Thành tích tốt nhất theo từng liên đoàn

[sửa | sửa mã nguồn]
BERJAYA
Người Hàn Quốc theo dõi đội tuyển quốc gia của họ trên màn hình lớn ở Quảng trường Seoul tại World Cup 2002 khi Hàn Quốc trở thành quốc gia châu Á đầu tiên lọt vào bán kết.

Cho đến nay, các trận chung kết Cúp bóng đá thế giới chỉ được tranh tài giữa các đội tuyển từ các liên đoàn UEFA (châu Âu) và CONMEBOL (Nam Mỹ). Các quốc gia châu Âu đã giành được 12 chức vô địch, trong khi Nam Mỹ là 10 lần. Chỉ có ba đội tuyển từ bên ngoài hai châu lục này đã từng vào được đến vòng bán kết của giải đấu: Hoa Kỳ (CONCACAF) vào năm 1930, Hàn Quốc (châu Á) vào năm 2002Maroc (châu Phi) vào năm 2022. Chỉ có một đội từ châu Đại Dương đã từng vượt qua vòng bảng, Úc vào năm 2006, đã giành quyền vào vòng hai.[104]

Brasil, Argentina, Tây Ban NhaĐức là những đội tuyển duy nhất giành được World Cup tổ chức bên ngoài liên đoàn lục địa của họ; Brasil đã giành chiến thắng ở châu Âu (1958), Bắc Mỹ (19701994) và châu Á (2002), Argentina đã giành chức vô địch tại Bắc Mỹ vào năm 1986 và châu Á vào năm 2022, trong khi Tây Ban Nha đã giành được một chức vô địch tại châu Phi vào năm 2010. Đức là đội tuyển châu Âu đầu tiên vô địch World Cup tại Nam Mỹ vào năm 2014. Chỉ có năm lần liên tiếp World Cup được chinh phục bởi các đội tuyển đến từ cùng một lục địa. Ý và Brasil đã bảo vệ thành công danh hiệu của họ vào năm 1938 và 1962, trong khi đội đăng quang tiếp theo sau Ý vào năm 2006 là Tây Ban Nha vào năm 2010, Đức vào năm 2014, Pháp vào năm 2018 và Argentina vào năm 2022.

Tổng số lần các đội đủ điều kiện theo liên đoàn
Liên đoàn AFC CAF CONCACAF CONMEBOL OFC UEFA Tổng số
Số đội434946894258489
Top 169111537199172
Top 8245360105152
Top 4111236288
Top 20 00152944
Vô địch101325
Á quân517
Hạng ba1319
Hạng tư110516

Thành tích chi tiết từng đội tại các kỳ World Cup

[sửa | sửa mã nguồn]
Ghi chú
Giải đấu
(Các) nước chủ nhà
(Số đội tham dự)

Đội tuyển
1930
Uruguay
(13)
1934
Ý
(16)
1938
Pháp
(15)
1950
Brasil
(13)
1954
Thụy Sĩ
(16)
1958
Thụy Điển
(16)
1962
Chile
(16)
1966
Anh
(16)
1970
México
(16)
1974
Tây Đức
(16)
1978
Argentina
(16)
1982
Tây Ban Nha
(24)
1986
México
(24)
1990
Ý
(24)
1994
Hoa Kỳ
(24)
1998
Pháp
(32)
2002
Hàn Quốc
Nhật Bản
(32)
2006
Đức
(32)
2010
Cộng hòa Nam Phi
(32)
2014
Brasil
(32)
2018
Nga
(32)
2022
Qatar
(32)
2026
Canada
Hoa Kỳ
México
(48)
2030
Maroc
Bồ Đào Nha
Tây Ban Nha
(48)
2034
Ả Rập Xê Út
(48)
Số lần
tham dự
BERJAYA Algérie Không tham dự, là một phần của Pháp×GS1
13th
GS
22nd
GS
28th
R16
14th
R32
30th
TBDTBD5
BERJAYA Angola R1
23rd
TBDTBD1
BERJAYA Argentina 2ndR16
T-9th
××GS
13th
GS
10th
QF
5th
GS2
8th
1stGS2
11th
1st2ndR16
10th
QF
6th
GS
18th
QF
6th
QF
5th
2ndR16
16th
1st2ndQTBD19
BERJAYA Úc GS1
14th
R16
16th
GS
21st
GS
30th
GS
30th
R16
11th
R32
22nd
TBDTBD7
BERJAYA Áo 4th••[d]×3rdGS
15th
GS2
7th
GS2
8th
GS
T-18th
GS
23rd
R32
28th
TBDTBD8
BERJAYA Bỉ GS
11th
R16
15th
R16
13th
×GS
12th
GS
T-10th
GS2
10th
4thR16
11th
R16
11th
GS
19th
R16
14th
QF
6th
3rdGS
23rd
QF
6th
TBDTBD15
BERJAYA Bolivia GS
12th
GS
13th
×GS
21st
TBDTBD3
BERJAYA Bosna và Hercegovina Không tham dự, là một phần của Nam Tư[e]GS
20th
R32
29th
TBDTBD2
BERJAYA Brasil GS
6th
R16
14th
3rd2ndQF
5th
1st1stGS
11th
1st4th3rdGS2
5th
QF
5th
R16
9th
1st2nd1stQF
5th
QF
6th
4thQF
6th
QF
7th
R16
11th
TBDTBD23
BERJAYA Bulgaria •×GS
15th
GS
15th
GS
13th
GS1
12th
R16
15th
4thGS
29th
TBDTBD7
BERJAYA Cameroon ×GS1
17th
QF
7th
GS
22nd
GS
25th
GS
20th
GS
31st
GS
32nd
GS
19th
TBDTBD8
BERJAYA Canada ×GS
24th
GS
31st
R16
14th
TBDTBD3
BERJAYA Cabo Verde Không tham dự, là một phần của Bồ Đào NhaR32
32nd
TBDTBD1
BERJAYA Chile GS
5th
×GS
9th
3rdGS
T-13th
GS1
11th
GS1
22nd
×R16
16th
R16
10th
R16
9th
TBDTBD9
BERJAYA Trung Quốc[f] GS
31st
TBDTBD1
BERJAYA Colombia ×GS
14th
R16
14th
GS
19th
GS
21st
QF
5th
R16
9th
R16
10th
TBDTBD7
BERJAYA Costa Rica ××R16
13th
GS
19th
GS
31st
QF
8th
GS
29th
GS
27th
TBDTBD6
BERJAYA Croatia Không tham dự, là một phần của Nam Tư[e]3rdGS
23rd
GS
22nd
GS
19th
2nd3rdR32
20th
TBDTBD7
BERJAYA Cuba QF
8th
×××TBDTBD1
BERJAYA Curaçao[g] GS
42nd
TBDTBD1
BERJAYA Séc[h] 2ndQF
5th
GS
14th
GS
9th
2ndGS
15th
GS1
19th
QF
6th
GS
20th
GS
39th
TBDTBD10
BERJAYA Đan Mạch R16
9th
QF
8th
R16
10th
GS
24th
R16
11th
GS
28th
TBDTBD6
BERJAYA CHDC Congo[i] ×GS1
16th
×R32
23rd
TBDTBD2
BERJAYA Đông Đức[j] Không tham dự, là một phần của ĐứcGS2
6th
Đã sáp nhập với Tây Đức thành một nước Đức thống nhất1
BERJAYA Ecuador ×GS
24th
R16
12th
GS
17th
GS
18th
R32
T-25th
TBDTBD5
BERJAYA Ai Cập[k] ••R16
13th
××××GS
20th
GS
31st
R16
15th
TBDTBD4
Đội tuyển 1930
Uruguay
(13)
1934
Ý
(16)
1938
Pháp
(15)
1950
Brasil
(13)
1954
Thụy Sĩ
(16)
1958
Thụy Điển
(16)
1962
Chile
(16)
1966
Anh
(16)
1970
México
(16)
1974
Tây Đức
(16)
1978
Argentina
(16)
1982
Tây Ban Nha
(24)
1986
México
(24)
1990
Ý
(24)
1994
Hoa Kỳ
(24)
1998
Pháp
(32)
2002
Hàn Quốc
Nhật Bản
(32)
2006
Đức
(32)
2010
Cộng hòa Nam Phi
(32)
2014
Brasil
(32)
2018
Nga
(32)
2022
Qatar
(32)
2026
Canada
Hoa Kỳ
México
(48)
2030
Maroc
Bồ Đào Nha
Tây Ban Nha
(48)
2034
Ả Rập Xê Út
(48)
Số lần
tham dự
BERJAYA El Salvador ×GS
16th
GS1
24th
TBDTBD2
BERJAYA Anh GS
8th
QF
6th
GS
11th
QF
8th
1stQF
8th
GS2
6th
QF
8th
4thR16
9th
QF
6th
QF
7th
R16
13th
GS
26th
4thQF
6th
3rdTBDTBD17
BERJAYA Pháp GS
7th
R16
T-9th
QF
6th
GS
11th
3rdGS
T-13th
GS1
12th
4th3rd1stGS
28th
2ndGS
29th
QF
7th
1st2nd4thTBDTBD17
BERJAYA Đức[j] 3rdR16
10th
1st4thQF
7th
2nd3rd1stGS2
6th
2nd2nd1stQF
5th
QF
7th
2nd3rd3rd1stGS
22nd
GS
17th
R32
18th
TBDTBD21
BERJAYA Ghana ××R16
13th
QF
7th
GS
25th
GS
24th
R32
24th
TBDTBD5
BERJAYA Hy Lạp •×GS
24th
GS
25th
R16
13th
TBDTBD3
BERJAYA Haiti GS1
15th
GS
45th
TBDTBD2
BERJAYA Honduras ×GS1
18th
GS
30th
GS
31st
TBDTBD3
BERJAYA Hungary QF
6th
2nd2ndGS
10th
QF
5th
QF
6th
GS1
15th
GS1
14th
GS
18th
TBDTBD9
BERJAYA Iceland ×GS
28th
TBDTBD1
BERJAYA Indonesia[l] R16
15th
ו×××TBDTBD1
BERJAYA Iran GS1
14th
××GS
20th
GS
T-25th
GS
28th
GS
18th
GS
26th
GS
33rd
TBDTBD7
BERJAYA Iraq ×GS
23rd
GS
48th
TBDTBD2
BERJAYA Israel[m] GS
12th
TBDTBD1
BERJAYA Ý 1st1stGS
7th
GS
10th
GS
9th
GS
9th
2ndGS1
10th
4th1stR16
12th
3rd2ndQF
5th
R16
15th
1stGS
26th
GS
22nd
TBDTBD18
BERJAYA Bờ Biển Ngà GS
19th
GS
17th
GS
21st
R32
19th
TBDTBD4
BERJAYA Jamaica ××GS
22nd
TBDTBD1
BERJAYA Nhật Bản ••×GS
31st
R16
9th
GS
T-28th
R16
9th
GS
29th
R16
15th
R16
9th
R32
21st
TBDTBD8
BERJAYA Jordan GS
44th
TBDTBD1
BERJAYA Kuwait GS1
21st
•×TBDTBD1
BERJAYA México GS
13th
×GS
12th
GS
13th
GS
16th
GS
11th
GS
12th
QF
6th
GS1
16th
QF
6th
×R16
13th
R16
13th
R16
11th
R16
15th
R16
14th
R16
10th
R16
12th
GS
22nd
R16
9th
TBDTBD18
BERJAYA Maroc ×GS
14th
R16
11th
GS
23rd
GS
18th
GS
27th
4thQF
T-7th
QTBD7
BERJAYA Hà Lan R16
T-9th
R16
14th
2nd2ndR16
15th
QF
7th
4thR16
11th
2nd3rdQF
5th
R32
17th
TBDTBD12
BERJAYA New Zealand GS1
23rd
GS
22nd
GS
40th
TBDTBD3
BERJAYA Nigeria ×R16
9th
R16
12th
GS
27th
GS
27th
R16
16th
GS
21st
TBDTBD6
BERJAYA CHDCND Triều Tiên QF
8th
××GS
32nd
•×TBDTBD2
BERJAYA Bắc Ireland[n] QF
8th
GS2
9th
GS
21st
TBDTBD3
BERJAYA Na Uy R16
12th
GS
17th
R16
15th
QF
5th
TBDTBD4
Đội tuyển 1930
Uruguay
(13)
1934
Ý
(16)
1938
Pháp
(15)
1950
Brasil
(13)
1954
Thụy Sĩ
(16)
1958
Thụy Điển
(16)
1962
Chile
(16)
1966
Anh
(16)
1970
México
(16)
1974
Tây Đức
(16)
1978
Argentina
(16)
1982
Tây Ban Nha
(24)
1986
México
(24)
1990
Ý
(24)
1994
Hoa Kỳ
(24)
1998
Pháp
(32)
2002
Hàn Quốc
Nhật Bản
(32)
2006
Đức
(32)
2010
Cộng hòa Nam Phi
(32)
2014
Brasil
(32)
2018
Nga
(32)
2022
Qatar
(32)
2026
Canada
Hoa Kỳ
México
(48)
2030
Maroc
Bồ Đào Nha
Tây Ban Nha
(48)
2034
Ả Rập Xê Út
(48)
Số lần
tham dự
BERJAYA Panamá GS
32nd
GS
43rd
TBDTBD2
BERJAYA Paraguay GS
9th
GS
11th
GS
12th
R16
13th
R16
14th
R16
16th
GS
18th
QF
8th
R16
16th
QTBD9
BERJAYA Perú GS
10th
×××QF
7th
GS2
8th
GS1
20th
GS
20th
TBDTBD5
BERJAYA Ba Lan •×R16
11th
×3rdGS2
5th
3rdR16
14th
GS
25th
GS
21st
GS
25th
R16
15th
TBDTBD9
BERJAYA Bồ Đào Nha 3rdGS
17th
GS
21st
4thR16
11th
GS
18th
R16
13th
QF
8th
R16
13th
QTBD9
BERJAYA Qatar ×GS
32nd
GS
41st
TBDTBD2
BERJAYA Cộng hòa Ireland[o] QF
8th
R16
16th
R16
12th
TBDTBD3
BERJAYA România GS
8th
R16
12th
R16
9th
GS
T-10th
R16
12th
QF
6th
R16
11th
TBDTBD7
BERJAYA Nga[p] QF
7th
QF
6th
4thQF
5th
•×GS2
7th
R16
10th
GS
17th
GS
18th
GS
22nd
GS
24th
QF
8th
•××TBDTBD11
BERJAYA Ả Rập Xê Út R16
12th
GS
28th
GS
32nd
GS
T-28th
GS
26th
GS
25th
GS
38th
TBDQ7
BERJAYA Scotland ••GS
15th
GS
14th
GS1
9th
GS1
11th
GS1
15th
GS
19th
GS
T-18th
GS
27th
GS
36th
TBDTBD9
BERJAYA Sénégal ×QF
7th
GS
17th
R16
10th
R32
31st
TBDTBD4
BERJAYA Serbia[e] 4th[a]GS
5th
QF
7th
QF
5th
4thGS2
7th
GS1
16th
QF
5th
×R16
10th
GS
32nd
GS
23rd
GS
23rd
GS
29th
TBDTBD13
BERJAYA Slovakia[h] 2ndQF
5th
GS
14th
GS
9th
2ndGS
15th
GS1
19th
QF
6th
R16
16th
TBDTBD9
BERJAYA Slovenia Không tham dự, là một phần của Nam Tư[e]GS
30th
GS
18th
TBDTBD2
BERJAYA Nam Phi ×GS
24th
GS
17th
GS
20th
R32
T-25th
TBDTBD4
BERJAYA Hàn Quốc GS
16th
××GS
20th
GS
22nd
GS
20th
GS
30th
4thGS
17th
R16
15th
GS
27th
GS
19th
R16
16th
GS
34th
TBDTBD12
BERJAYA Tây Ban Nha QF
5th
×4thGS
12th
GS
10th
GS1
10th
GS2
12th
QF
7th
R16
10th
QF
8th
GS
17th
QF
5th
R16
9th
1stGS
23rd
R16
10th
R16
13th
1stQTBD17
BERJAYA Thụy Điển QF
8th
4th3rd2ndGS
9th
GS2
5th
GS1
13th
GS
21st
3rdR16
13th
R16
14th
QF
7th
R32
27th
TBDTBD13
BERJAYA Thụy Sĩ QF
7th
QF
7th
GS
6th
QF
8th
GS
16th
GS
16th
R16
15th
R16
10th
GS
19th
R16
11th
R16
14th
R16
12th
QF
T-7th
TBDTBD13
BERJAYA Togo ××GS
30th
TBDTBD1
BERJAYA Trinidad và Tobago GS
27th
TBDTBD1
BERJAYA Tunisia ×GS1
9th
GS
26th
GS
29th
GS
24th
GS
24th
GS
21st
GS
47th
TBDTBD7
BERJAYA Thổ Nhĩ Kỳ ו•GS
9th
×3rdGS
35th
TBDTBD3
BERJAYA Ukraina Không tham dự, là một phần của Liên Xô[p]QF
8th
TBDTBD1
BERJAYA UAE ×GS
24th
TBDTBD1
BERJAYA Hoa Kỳ 3rd[a]R16
16th
×GS
10th
GS
23rd
R16
14th
GS
32nd
QF
8th
GS
T-25th
R16
12th
R16
15th
R16
14th
R16
12th
TBDTBD12
BERJAYA Uruguay 1st1st4thGS
13th
QF
7th
4thGS1
13th
R16
16th
R16
16th
GS
26th
4thR16
12th
QF
5th
GS
20th
GS
37th
QTBD15
BERJAYA Uzbekistan Không tham dự, là một phần của Liên Xô[p]GS
46th
TBDTBD1
BERJAYA Wales QF
6th
GS
30th
TBDTBD2

Bảng xếp hạng tổng thể

[sửa | sửa mã nguồn]
Tính đến Giải vô địch bóng đá thế giới 2026
Chú thích
Đội đã vô địch giải đấu
TT Đội tuyển Trận Thắng Hòa Thua Bàn thắng Bàn thua Hiệu số Điểm
1.BERJAYA Brasil 119792020247112+135257
2.BERJAYA Đức[j] 116702224243135+108232
3.BERJAYA Argentina 96541725171109+62179
4.BERJAYA Ý 8345211712877+51156
5.BERJAYA Pháp 8145142215695+61149
6.BERJAYA Anh 8238232112480+44137
7.BERJAYA Tây Ban Nha 7538181912276+46132
8.BERJAYA Hà Lan 5932161110757+50112
9.BERJAYA Uruguay 622515229280+1290
10.BERJAYA Bỉ 572412218381+284
11.BERJAYA México 6521152972104−3278
12.BERJAYA Thụy Điển 552014218783+474
13.BERJAYA Nga[p] 451910167754+2367
14.BERJAYA Bồ Đào Nha 40198136944+2565
15.BERJAYA Serbia[e] 49189227171063
16.BERJAYA Thụy Sĩ 471710206579−1461
17.BERJAYA Ba Lan 38176154950−157
18.BERJAYA Croatia 34158114940+953
19.BERJAYA Hungary 32153148757+3048
20.BERJAYA Áo 33135154956−744
21.BERJAYA Hoa Kỳ 42128225174−2344
22.BERJAYA Slovakia[h] 34126164952−342
23.BERJAYA Séc[h] 36126184955−642
24.BERJAYA Colombia 27125103731+641
25.BERJAYA Chile 33117154049−940
26.BERJAYA Paraguay 32812123344−1136
27.BERJAYA Hàn Quốc 41810234181−4034
28.BERJAYA Đan Mạch 239683129+233
29.BERJAYA Maroc 2989123033−333
30.BERJAYA Nhật Bản 2988133338−532
31.BERJAYA România 218583032−229
32.BERJAYA Costa Rica 2165102239−1723
33.BERJAYA Cameroon 2658132247−2523
34.BERJAYA Ghana 196492026−622
35.BERJAYA Scotland 2657142645−1922
36.BERJAYA Na Uy 146352019+121
37.BERJAYA Sénégal 166372626021
38.BERJAYA Ecuador 176381618−221
39.BERJAYA Nigeria 2163122330−721
40.BERJAYA Úc 2456132040−2021
41.BERJAYA Thổ Nhĩ Kỳ 136162322+119
42.BERJAYA Perú 1853102133−1218
43.BERJAYA Bulgaria 2638152253−3117
44.BERJAYA Bờ Biển Ngà 135171818016
45.BERJAYA Algérie 174491828−1016
46.BERJAYA Iran 2137111634−1816
47.BERJAYA Ả Rập Xê Út 2244141549−3416
48.BERJAYA Cộng hòa Ireland 132831010014
49.BERJAYA Nam Phi 133551320−714
50.BERJAYA Bắc Ireland 133551323−1014
51.BERJAYA Tunisia 2135131638−2214
52.BERJAYA Đông Đức[j] 62225508
53.BERJAYA Ai Cập 121561319−68
54.BERJAYA Hy Lạp 10226520−158
55.BERJAYA Ukraina 521257−27
56.BERJAYA Bosna và Hercegovina 7214912−37
57.BERJAYA Wales 8143510−57
58.BERJAYA Canada 112181118−77
59.BERJAYA Slovenia 6114510−54
60.BERJAYA Cuba 3111512−74
61.BERJAYA CHDC Congo[i] 7115519−144
62.BERJAYA CHDCND Triều Tiên 7115621−154
63.BERJAYA New Zealand 9045824−164
64.BERJAYA Cabo Verde 403145−13
65.BERJAYA Jamaica 310239−63
66.BERJAYA Honduras 9036314−113
67.BERJAYA Angola 302112−12
68.BERJAYA Israel 302113−22
69.BERJAYA Iceland 301225−31
70.BERJAYA Kuwait 301226−41
71.BERJAYA Trinidad và Tobago 301204−41
72.BERJAYA Curaçao 301219−81
73.BERJAYA Qatar 6015317−141
74.BERJAYA Bolivia 6015120−191
75.BERJAYA Jordan 300338−50
76.BERJAYA Togo 300316−50
77.BERJAYA Indonesia[l] 100106−60
78.BERJAYA UAE 3003211−90
BERJAYA Uzbekistan 3003211−90
80.BERJAYA Trung Quốc 300309−90
81.BERJAYA Panamá 6006215−130
82.BERJAYA Iraq 6006216−140
83.BERJAYA Haiti 6006422−180
84.BERJAYA El Salvador 6006122−210

Thành tích của các đội chủ nhà

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoại trừ giải năm 1934, tất cả các đội chủ nhà đều chắc chắn giành quyền tham dự vòng chung kết World Cup.

Năm Chủ nhà Thành tích
1930 BERJAYA Uruguay Vô địch
1934 BERJAYA Ý Vô địch
1938 BERJAYA Pháp Tứ kết
1950 BERJAYA Brasil Á quân
1954 BERJAYA Thụy Sĩ Tứ kết
1958 BERJAYA Thụy Điển Á quân
1962 BERJAYA Chile Hạng ba
1966 BERJAYA Anh Vô địch
1970 BERJAYA México Tứ kết
1974 BERJAYA Tây Đức Vô địch
1978 BERJAYA Argentina Vô địch
1982 BERJAYA Tây Ban Nha Vòng bảng thứ hai
1986 BERJAYA México Tứ kết
1990 BERJAYA Ý Hạng ba
1994 BERJAYA Hoa Kỳ Vòng 16 đội
1998 BERJAYA Pháp Vô địch
2002 BERJAYA Hàn Quốc Hạng tư
BERJAYA Nhật Bản Vòng 16 đội
2006 BERJAYA Đức Hạng ba
2010 BERJAYA Nam Phi Vòng bảng
2014 BERJAYA Brasil Hạng tư
2018 BERJAYA Nga Tứ kết
2022 BERJAYA Qatar Vòng bảng
2026 BERJAYA Canada Vòng 16 đội
BERJAYA Hoa Kỳ Vòng 16 đội
BERJAYA México Vòng 16 đội
2030 BERJAYA Maroc Chưa xác định
BERJAYA Bồ Đào Nha Chưa xác định
BERJAYA Tây Ban Nha Chưa xác định
2034 BERJAYA Ả Rập Xê Út Chưa xác định

Thành tích của đội đương kim vô địch

[sửa | sửa mã nguồn]

Cho đến năm 2002, đội vô địch World Cup cũng đồng thời giành quyền tham dự vòng chung kết giải tiếp theo. Nhưng từ năm 2006, đội đương kim vô địch vẫn phải trải qua vòng loại. Ngoại lệ đặc biệt xảy ra ở World Cup 2030, khi đương kim vô địch Tây Ban Nha cũng là một trong những quốc gia đồng chủ nhà, do đó họ không phải thi đấu vòng loại.

Năm Đương kim vô địch Thành tích
1930
1934 BERJAYA Uruguay Không tham dự
1938 BERJAYA Ý Vô địch
1950 BERJAYA Ý Vòng bảng
1954 BERJAYA Uruguay Hạng tư
1958 BERJAYA Tây Đức Hạng tư
1962 BERJAYA Brasil Vô địch
1966 BERJAYA Brasil Vòng bảng
1970 BERJAYA Anh Tứ kết
1974 BERJAYA Brasil Hạng tư
1978 BERJAYA Tây Đức Vòng bảng thứ hai
1982 BERJAYA Argentina Vòng bảng thứ hai
1986 BERJAYA Ý Vòng 16 đội
1990 BERJAYA Argentina Á quân
1994 BERJAYA Đức Tứ kết
1998 BERJAYA Brasil Á quân
2002 BERJAYA Pháp Vòng bảng
2006 BERJAYA Brasil Tứ kết
2010 BERJAYA Ý Vòng bảng
2014 BERJAYA Tây Ban Nha Vòng bảng
2018 BERJAYA Đức Vòng bảng
2022 BERJAYA Pháp Á quân
2026 BERJAYA Argentina Á quân
2030 BERJAYA Tây Ban Nha Chưa xác định

Các giải thưởng

[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện có 6 giải thưởng trao cho cá nhân hay toàn đội tuyển cho thành tích thi đấu của họ tại mỗi kỳ World Cup:[106]

  • Giải Quả bóng vàng cho cầu thủ xuất sắc nhất giải, do giới truyền thông bầu chọn (được trao lần đầu vào năm 1982); Quả bóng bạcQuả bóng đồng cho hai cầu thủ xếp thứ hai và thứ ba về số phiếu trong cuộc bầu chọn này;[107]
  • Giải Chiếc giày vàng cho vua phá lưới của giải. Chiếc giày bạcChiếc giày đồng cho hai cầu thủ về nhì và về ba[108]
  • Giải Găng tay vàng (trước đó là Giải thưởng Yashin) cho thủ môn xuất sắc nhất giải, do Hội đồng Kỹ thuật của FIFA bầu chọn (được trao lần đầu vào năm 1994);[109]
  • Giải Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất cho cầu thủ xuất sắc nhất dưới 21 tuổi tính đến thời điểm giải khởi tranh, do Hội đồng Kỹ thuật của FIFA bầu chọn (được trao lần đầu vào năm 2006).[110]
  • Giải FIFA Fair Play Trophy cho đội có chỉ số fair play tốt nhất, theo thang điểm do Ủy ban Fair Play FIFA quyết định (được trao lần đầu vào năm 1978);[110]
  • Giải Đội tuyển lôi cuốn nhất cho đội giành được nhiều phiếu nhất do khán giả bình chọn (được trao lần đầu vào năm 1994);[110]

Đội hình tiêu biểu được công bố lần đầu vào năm 1998.

Các đội tuyển mỗi lần vô địch World Cup đều được gắn thêm 1 ngôi sao lên biểu tượng, trừ ĐTQG Uruguay (có 4 sao nhưng có 2 lần vô địch World Cup, 2 lần vô địch bóng đá nam Olympic).

Ghi chú và tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. 1 2 Stephen Dobson and John Goddard, The Economics of Football Lưu trữ ngày 16 tháng 2 năm 2023 tại Wayback Machine, page 407, quote "The World Cup is the most widely viewed sporting event in the world: the estimated cumulative television audience for the 2006 World Cup in Germany was 26.2 billion, an average of 409 million viewers per match."
  2. Glenn M. Wong, The Comprehensive Guide to Careers in Sports Lưu trữ ngày 16 tháng 2 năm 2023 tại Wayback Machine, trang 144, trích dẫn "The World Cup is the most-watched sporting event in the world. In 2006, more than 30 billion viewers in 214 countries watched the World Cup on television, and more than 3.3 million spectators attended the 64 matches of the tournament."
  3. "2018 FIFA World Cup Russia Global broadcast and audience summary" (PDF). FIFA. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 11 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2022.
  4. Tom Dunmore, Historical Dictionary of Soccer Lưu trữ ngày 14 tháng 1 năm 2023 tại Wayback Machine, trang 235, trích dẫn "The World Cup is now the most-watched sporting event in the world on television, above even the Olympic Games."
  5. "One Month On: 5 billion engaged with the FIFA World Cup Qatar 2022". FIFA. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2023.
  6. "ĐT Việt Nam đã sẵn sàng cho vòng loại World Cup 2022". VTV News. ngày 3 tháng 6 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2024.
  7. "Đội tuyển Việt Nam lên đường đá vòng loại World Cup". VnExpress. ngày 26 tháng 5 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2024.
  8. "England National Football Team Match No. 1". England Football Online. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2007.
  9. "British PM backs return of Home Nations championship". Agence France-Presse. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2007.
  10. Elbech, Søren; Stokkermans, Karel (ngày 26 tháng 6 năm 2008). "Intermediate Games of the IV. Olympiad". rec.sport.soccer Statistics Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2024.
  11. "History of FIFA – FIFA takes shape". FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2014.
  12. "'The First World Cup'. The Sir Thomas Lipton Trophy". Shrewsbury and Atcham Borough Council. ngày 10 tháng 10 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2003. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2006.
  13. "History of FIFA – More associations follow". FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2014.
  14. Reyes, Macario (ngày 18 tháng 10 năm 1999). "VII. Olympiad Antwerp 1920 Football Tournament". rec.sport.soccer Statistics Foundation. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2006.
  15. "History of FIFA – The first FIFA World Cup". FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2014.
  16. Molinaro, John F. "The World Cup's 1st goal scorer". CBC. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2014.
  17. "FIFA World Cup Origin" (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2007.
  18. "The Olympic Odyssey so far ... (Part 1: 1908–1964)". FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. ngày 9 tháng 6 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2014.
  19. "Los datos más curiosos de la Fiesta del Fútbol - Brasil 1950". Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2012.
  20. "Scotland and the 1950 World Cup". BBC. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2007.
  21. Glanville
  22. Glanville, p45
  23. Glanville, p238
  24. Glanville, p359
  25. "Record number of 204 teams enter preliminary competition". FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2014.
  26. Whittaker, James (ngày 23 tháng 10 năm 2013). "Caribbean pro league can work". Cayman Islands: CompassCayman.com. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2013.
  27. Blatter, Sepp (ngày 25 tháng 10 năm 2013). "A level playing field for Africa!" (PDF). FIFA Weekly. tr. 29. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2013.
  28. 1 2 Dickinson, Matt (ngày 28 tháng 10 năm 2013). "Michel Platini sets out his plan for the new world order". The Times. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2013.
  29. World Cup could expand to 48 teams, Fifa’s Gianni Infantino suggests Lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2016 tại Wayback Machine - The Guardian, ngày 3 tháng 10 năm 2016
  30. "Ab 2026: 48 Teams - Fifa vergrößert die WM". SPIEGEL ONLINE. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2024.
  31. No byline (ngày 3 tháng 12 năm 2015). "The FIFA Investigation, Explained". New York Times. New York, NY, USA. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015.
  32. McLaughlin, Eliott C.; Botelho, Greg (ngày 28 tháng 5 năm 2015). "FIFA corruption probe targets 'World Cup of fraud,' IRS chief says". CNN. Cable News Network. Turner Broadcasting System, Inc. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015.
  33. "Fifa crisis: US charges 16 more officials after earlier Zurich arrests". BBC News. ngày 4 tháng 12 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2024.
  34. "Blazer: Bribes accepted for 1998 and 2010 World Cups - Telegraph". Telegraph.co.uk. ngày 3 tháng 6 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2024.
  35. "Swiss police seize IT data from Fifa headquarters", The BBC, ngày 10 tháng 6 năm 2015 Lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2015 tại Wayback Machine. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2015
  36. "Fifa World Cup 2026 bidding process delayed". BBC Sport. ngày 10 tháng 6 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2015.
  37. Associated Press (ngày 8 tháng 10 năm 2015). "Sepp Blatter, Michel Platini handed 90-day FIFA suspensions". CBC Sports. CBC/Radio Canada. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015.
  38. Ruiz, Rebecca (ngày 3 tháng 12 năm 2015). "FIFA Corruption: Top Officials Arrested at Zurich Hotel". New York Times. New York, USA. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015.
  39. no byline (ngày 3 tháng 12 năm 2015). "Fifa crisis: US charges 16 more officials after earlier Zurich arrests". BBC Sport. BBC. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015.
  40. "FIFA Women's World Cup". FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2007.
  41. "We Are the World... Cup" Lưu trữ ngày 9 tháng 9 năm 2017 tại Wayback Machine. China Post. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2017
  42. "Regulations Men's Olympic Football Tournament 2008" (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2007.
  43. "FIFA Confederations Cup". FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2007.
  44. "FIFA Task Force for Women's Football proposes a FIFA Women's Club World Cup". fifa.com. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2017.
  45. "FIFA Women's World Cup next up for Canada in 2015" Lưu trữ ngày 16 tháng 9 năm 2020 tại Wayback Machine. CBC Sports. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2017
  46. "Jules Rimet Cup". FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2014.
  47. "FIFA Assets – Trophy". FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2007.
  48. "FIFA World Cup™ Trophy". FIFA.com. ngày 24 tháng 6 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2019.
  49. FIFA World Cup Trophy Lưu trữ ngày 14 tháng 11 năm 2012 tại Wayback Machine, FIFA.com. Truy cập 19 tháng 11 năm 2007.
  50. "Cúp vàng không bằng vàng ròng". Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2010.
  51. "FIFA World Cup Trophy". FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2014.
  52. "122 forgotten heroes get World Cup medals". ESPNSoccernet.com. ESPN. ngày 25 tháng 11 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2019.
  53. "World Cup 1966 winners honoured". BBC Sport. ngày 10 tháng 6 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2024.
  54. "Jimmy Greaves finally gets his 1966 World Cup medal". Mirror.co.uk. MGN. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2024.
  55. "FIFA World Cup qualifying: Treasure-trove of the weird and wonderful". FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2007.
  56. "2010 World Cup Qualifying". ESPNSoccernet.com. ESPN. ngày 26 tháng 11 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2009.
  57. "History of the FIFA World Cup Preliminary Competition (by year)" (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2010.
  58. "Uruguay 1930". BBC Sport. ngày 11 tháng 4 năm 2002. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 11 năm 2003. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2006.
  59. "France 1938". BBC Sport. ngày 17 tháng 4 năm 2002. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2006.
  60. "Asia takes World Cup center stage". CNN. ngày 3 tháng 6 năm 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2008.
  61. "Brazil will stage 2014 World Cup". BBC Sport. ngày 10 tháng 10 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2008.
  62. Gibson, Owen (ngày 2 tháng 12 năm 2010). "England beaten as Russia win 2018 World Cup bid". The Guardian. London. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2017.
  63. Jackson, Jamie (ngày 2 tháng 12 năm 2010). "Qatar win 2022 World Cup bid". The Guardian. London. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2017.
  64. "Rotation ends in 2018". FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. ngày 29 tháng 10 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2013.
  65. Collett, Mike (ngày 30 tháng 10 năm 2007), “Brazil officially named 2014 World Cup hosts” Lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2018 tại Wayback Machine. Reuters. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2018
  66. 1 2 "World Cup 2026: Canada, US & Mexico joint bid wins right to host tournament". BBC Sport. ngày 13 tháng 6 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2018.
  67. "World Cup 1974 - West Germany win on home soil" Lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2010 tại Wayback Machine. BBC. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2017
  68. Bevan, Chris. "France 1-2 South Africa" Lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2010 tại Wayback Machine. BBC. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2017
  69. Gianluigi Buffon (Ý, 1998-2014) và Guillermo Ochoa (Mexico, 2006-2022) cũng có năm lần được đăng ký trong danh sách cầu thủ tham dự vòng chung kết, nhưng các cầu thủ này đều có tối thiểu một lần tham dự giải mà không thi đấu một trận nào.
  70. Yannis, Alex (ngày 10 tháng 11 năm 1999). "Matthaus Is the Latest MetroStars Savior". New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2007.
  71. "World Cup Hall of Fame: Lothar Matthaeus". CNN. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2007.
  72. Kirby, Gentry (ngày 5 tháng 7 năm 2006). "Pele, King of Futbol". ESPN. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2007.
  73. Downie, Andrew (ngày 24 tháng 7 năm 2013). "Brazil's twice World Cup winner Djalma Santos dies at 84". Reuters. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2014.</reLionelai người ghi nhiều bàn thắng nhất tại các kỳ World Cup là tuyển thủ Đức Miroslav KloseLione Messi, với 16 lần làm tung lưới đối phương trong 4 và 6 lần tham dự giải. Tiếp theo là tuyển thủ Brasil Ronaldo với 15 bàn. Đứng thứ 3 với 14 lần lập công là tuyển thủ người Đức Gerd Müller.<ref>Chowdhury, Saj (ngày 27 tháng 6 năm 2006). "Ronaldo's riposte". BBC. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2007.
  74. "Goal machine was Just superb". BBC. ngày 4 tháng 4 năm 2002. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2007.
  75. Kirby, Gentry (ngày 5 tháng 7 năm 2006). "Pele, King of Futbol". ESPN. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2007.
  76. "Brazil, Germany & Every World Cup Winner from 1930 to 2014". Goal. ngày 13 tháng 5 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2024.
  77. Hughes, Rob (ngày 11 tháng 3 năm 1998). "No Alternative to Victory for National Coach: 150 Million Brazilians Keep Heat on Zagalo". International Herald Tribune. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 10 năm 2005. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2007.
  78. Brewin, John (ngày 21 tháng 12 năm 2007). "World Cup Legends – Franz Beckenbauer". ESPN. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2007.
  79. Cross, Jeremy (ngày 15 tháng 7 năm 2018). "France boss Didier Deschamps makes history with World Cup final victory over Croatia". Daily Star. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2018.
  80. "1938 France". CBC. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2007.
  81. "The Curse of the Foreign-Born Coach". Wall Street Journal. ngày 13 tháng 5 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2024.
  82. "World Football – All time table". World Football. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2014.
  83. "Brazil pass Germany as all-time top scorers at the World Cup". ESPN. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2018.
  84. "Five Aside: Germany - Brazil preview". ESPN. ngày 7 tháng 7 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2018.
  85. "World Cup Rewind: Largest attendance at a match in the 1950 Brazil final". Guinness World Records (bằng tiếng Anh). ngày 12 tháng 6 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2018. Officially, 173,850 paid spectators crammed into Rio de Janeiro's Maracanã Stadium on July 16(...) Some estimates have even pegged the attendance as high as 199,000 or 210,000 unofficially
  86. "FIFA World Cup competition records" (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. tr. 2. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013.
  87. "Socceroos face major challenge: Hiddink". ABC Sport. ngày 10 tháng 12 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2006.
  88. "FIFA Financial Report 2014: Frequently Asked Questions". FIFA.com. ngày 9 tháng 12 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2019.
  89. "FIFA Assets – Mascots". FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2007.
  90. "The Footballs during the FIFA World Cup". Football Facts. FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2018.
  91. Anderson, Sara D (ngày 27 tháng 4 năm 2010). "Shakira Records Official Song for 2010 FIFA World Cup". Aolradioblog. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2010.
  92. "2018 FIFA World Cup Russia Official Song 'Live It Up' to be performed by all-star line-up". FIFA. ngày 23 tháng 5 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2018.
  93. 1 2 "Brand collaborations". FIFA.com. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2018.
  94. "Panini World Cup sticker book". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2018.
  95. Brachfeld, Aaron (ngày 2 tháng 12 năm 2015). "World Cup affects sex ratio in newborns". the Loka Review. Số November 2015. Loka Hatha Yoga. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2015.
  96. Masukume, Gwinyai. "Possible Effect of the World Cup on Births". Improbable Research. Harvard University. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2015.
  97. Masukume, Gwinyai. "The sex ratio at birth in South Africa increased 9 months after the 2010 FIFA World Cup". Early Human Development. Journal of Early Human Development. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2015.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
  98. 1 2 "Giải vô địch bóng đá thế giới 1950". FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2009.
  99. "Russian Football Union". www.fifa.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2024.
  100. "FIFA". www.fifa.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2024.
  101. "FIFA". www.fifa.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2024.
  102. "FIFA". www.fifa.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2024.
  103. "Brazil". FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2014.
  104. Australia's qualification in 2006 was through the Oceanian zone as they were a member of the OFC member during qualifying. However, on ngày 1 tháng 1 năm 2006, they left the Oceania Football Confederation and joined the Liên đoàn bóng đá châu Á.
  105. "1930 FIFA World Cup Uruguay". FIFA. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 2 năm 2015.
  106. "FIFA World Cup awards" (PDF). FIFA.com. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2009.
  107. "Golden Ball for Zinedine Zidane". Soccerway. ngày 10 tháng 7 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2007.
  108. "adidas Golden Shoe – FIFA World Cup Final". Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2009.
  109. "Kahn named top keeper". BBC. ngày 30 tháng 6 năm 2002. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2007.
  110. 1 2 3 "FIFA Awards". RSSSF. ngày 18 tháng 5 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2008.
  1. 1 2 3 Không có trận tranh hạng ba tại giải đấu năm 1930. Hoa Kỳ và Nam Tư là hai đội thua ở bán kết. Cả hai đội trưởng của hai đội đều được nhận huy chương đồng. Hiện tại, FIFA công nhận Hoa Kỳ là đội giành hạng ba và Nam Tư là đội giành hạng tư, sử dụng thành tích chung cuộc của các đội tại World Cup 1930.[105]
  2. Áo đủ điều kiện vào năm 1938, nhưng rút lui để tham dự với tư cách là một phần của Đức sau khi bị sáp nhập. Giải đấu chỉ còn 15 đội tuyển tham dự.
  3. 1 2 FIFA công nhận đội tuyển quốc gia của Nga kế thừa Liên Xô, đội tuyển quốc gia của Serbia kế thừa Nam Tư/Serbia và Montenegro và các đội tuyển quốc gia của Cộng hòa SécSlovakia kế thừa Tiệp Khắc.[99][100][101][102]
  4. Áo đủ điều kiện vào năm 1938, nhưng rút lui để tham dự với tư cách là một phần của Đức sau khi bị sáp nhập.
  5. 1 2 3 4 5 Đội tuyển bóng đá quốc gia Nam Tư đã tham dự giải đấu 8 lần lần trong thời kỳ Vương quốc Nam Tư (1930) và Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư (1950–1990). Đội đã tham dự giải đấu dưới tên Nam Tư trong giai đoạn từ 1930–1990 trước khi tan rã vào năm 1992 do nhiều nước cộng hòa thành viên ly khai. Đội đã tham dự giải đấu một lần vào năm 1998 với tư cách Cộng hòa Liên bang Nam Tư, sau đó đổi tên thành Serbia và Montenegro vào năm 2003, chỉ tham dự giải đấu với tên đó vào năm 2006. Tất cả các đội này đều được FIFA công nhận là tiền thân của đội tuyển bóng đá quốc gia Serbia hiện tại. Đội tuyển Serbia đã giành quyền tham dự giải đấu lần đầu tiên với tư cách là một quốc gia độc lập hoàn toàn vào năm 2010. Các đội tuyển quốc gia khác được thành lập sau sự tan rã của Nam Tư vào năm 1992 – Croatia, Slovenia, Bosna và HercegovinaBắc Macedonia – được công nhận là các đội tuyển tách biệt với đội tuyển Nam Tư giai đoạn 1930–1990. Đội tuyển bóng đá quốc gia Montenegro hiện cũng hoạt động riêng biệt sau khi Montenegro giành được độc lập hoàn toàn vào năm 2006, sau đó đội tuyển bóng đá quốc gia Kosovo được FIFA công nhận vào năm 2016.[cần dẫn nguồn]
  6. Vào ngày 14 tháng 6 năm 1952, FIFA thừa nhận Hiệp hội bóng đá Trung Quốc (CFA) tại Trung Quốc đại lục, không phải Hiệp hội bóng đá Trung Hoa Dân Quốc (ROCFA) có trụ sở ở Đài Loan, là cơ quan có thẩm quyền được công nhận đối với bóng đá Trung Quốc với tư cách thành viên có từ năm 1931.
  7. Thi đấu với tư cách là Curaçao cho đến năm 1958 và với tư cách Antille thuộc Hà Lan từ năm 1958 đến năm 2010.
  8. 1 2 3 4 Tiệp Khắc đã tham dự giải đấu 8 lần trước khi bị chia cắt thành SlovakiaCộng hòa Séc vào năm 1993. FIFA công nhận thành tích kế thừa của Tiệp Khắc thuộc về cả đội tuyển quốc gia Cộng hòa Sécđội tuyển quốc gia Slovakia sau này. Đội tuyển Cộng hòa Séc đã giành quyền tham dự World Cup lần đầu tiên với tư cách là một quốc gia độc lập hoàn toàn vào năm 2006, còn Slovakia cũng giành quyền tham dự lần đầu vào năm 2010.
  9. 1 2 Cộng hòa Dân chủ Congo tham dự với tư cách Zaire vào năm 1974.
  10. 1 2 3 4 Đức, tên chính thức là Cộng hòa Liên bang Đức kể từ năm 1949, được đại diện bởi cùng một cơ quan quản lý là Hiệp hội bóng đá Đức (Deutscher Fußball-BundDFB) bắt đầu từ năm 1904. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai và sự chia cắt của Đức, DFB đã được FIFA đồng ý cho hoạt động trở lại sau World Cup 1950 với tư cách Tây Đức. Vùng bảo hộ Saar (Saarland) đã tham dự vòng loại World Cup 1954 trước khi gia nhập Tây Đức vào năm 1956. Đông Đức đã thành lập đội tuyển của riêng nước này từ năm 1958 đến năm 1990 trước khi gia nhập với Tây Đức và DFB trong quá trình thống nhất nước Đức. FIFA chính thức công nhận tất cả các kết quả thi đấu quốc tế của đội DFB kể từ năm 1908 cho Đức, bao gồm cả kết quả của Tây Đức trong giai đoạn 1954–1990.
  11. Ai Cập tham dự vòng loại vào các năm 1962 và 1966 với tư cách Cộng hòa Ả Rập Thống nhất, nhưng đã rút lui trước khi thi đấu.
  12. 1 2 Indonesia tham dự giải đấu năm 1938 với tư cách Đông Ấn Hà Lan.
  13. Israel đã tham dự với tư cách Eretz Yisrael (Đất nước Israel) vào năm 1934 và năm 1938, với một đội bóng chỉ bao gồm các cầu thủ Do Thái và Anh từ lãnh thổ Ủy trị Palestine.
  14. Bắc Ireland đã tham dự với tư cách Ireland vào năm 1950.
  15. Cộng hòa Ireland đã tham dự với tư cách là Nhà nước tự do Ireland vào các năm 1934 và 1938 và sau đó là Ireland vào năm 1950.
  16. 1 2 3 4 Liên Xô đã tham dự giải đấu 7 lần trước khi tan rã vào năm 1991. 15 quốc gia từng là các nước cộng hòa của Liên bang Xô viết hiện đang hoạt động riêng biệt. FIFA công nhận đội tuyển bóng đá quốc gia Nga sau này là đội kế thừa thành tích của Liên Xô trước đây.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:National football teams Bản mẫu:Main world cups