The Slim Shady LP
| The Slim Shady LP | ||||
|---|---|---|---|---|
| Album phòng thu của Eminem | ||||
| Phát hành | 23 tháng 2 năm 1999 | |||
| Thu âm | Tháng 7, 1997 – Tháng 4, 1998[1] | |||
| Thể loại | ||||
| Thời lượng | 59:39 | |||
| Hãng đĩa | ||||
| Sản xuất | ||||
| Thứ tự album của Eminem | ||||
| ||||
| Đĩa đơn từ The Slim Shady LP | ||||
| ||||
The Slim Shady LP là album phòng thu thứ hai của rapper người Mỹ Eminem, phát hành ngày 23 tháng 2 năm 1999 bởi Interscope Records, Aftermath Entertainment và WEB Entertainment.[2] Sau thất bại của đĩa nhạc đầu tay Infinite (1996), Eminem ra mắt EP Slim Shady EP (1997) và giới thiệu một bản ngã thay thế của chính mình mang tên Slim Shady với tính cách bạo lực và hung tợn, qua đó giúp anh nhận được sự quan tâm của Jimmy Iovine và Dr. Dre, những người sau đó ký hợp đồng thu âm với nam rapper vào tháng 3 năm 1998. The Slim Shady LP là một bản thu âm West Coast hip-hop, G-funk và horrorcore với phần lớn nội dung ca từ được viết dưới góc nhìn của Slim Shady và kết hợp nhiều hình ảnh biếm họa về bạo lực và ngôn ngữ tục tĩu, được Eminem mô tả như một bộ phim kinh dị giải trí. Mặc dù hầu hết lời bài hát trong album được coi là châm biếm, nam rapper cũng đề cập đến sự thất vọng của bản thân khi sống trong hoàn cảnh nghèo đói. Eminem tham gia đồng sản xuất cho đĩa nhạc, bên cạnh sự đóng góp từ một số cộng tác viên như Dr. Dre, The Bass Brothers và Mel-Man. Ngoài ra, album có sự tham gia góp giọng của Dre, Dina Rae và Royce da 5'9".
Sau khi phát hành, The Slim Shady LP nhận được những phản ứng tích cực từ các nhà phê bình âm nhạc, trong đó họ đánh giá cao phong cách sáng tác độc đáo, lời bài hát theo khuynh hướng hài đen và tính cách đặc biệt của Eminem. Tuy nhiên, đĩa nhạc vấp phải nhiều tranh cãi từ một bộ phận công chúng bởi ca từ được cho là kỳ thị nữ giới và gây ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức của giới trẻ lúc bấy giờ. Bất chấp những chỉ trích, album giúp nam rapper chiến thắng một giải Grammy ở hạng mục Album rap xuất sắc nhất tại lễ trao giải thường niên lần thứ 42. The Slim Shady LP cũng đạt được những thành tích đáng kể về mặt thương mại khi lọt vào top 10 tại Canada và Vương quốc Anh, cũng như vươn đến top 20 ở một số thị trường khác. Đĩa nhạc ra mắt ở vị trí thứ hai trên bảng xếp hạng Billboard 200 với 283,000 bản, đánh dấu album đầu tiên của Eminem vươn đến top 10 tại Hoa Kỳ và được chứng nhận sáu đĩa Bạch kim bởi Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ (RIAA) với lượng đĩa xuất xưởng đạt sáu triệu bản. Ngoài ra, The Slim Shady LP cũng trở thành album quán quân đầu tiên của anh trên bảng xếp hạng Billboard Top R&B/Hip-Hop Albums.
Ba đĩa đơn đã được phát hành từ đĩa nhạc. "My Name Is" được chọn làm đĩa đơn mở đường và xuất hiện trong top 10 ở một số thị trường nổi bật, đồng thời đạt vị trí thứ 36 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 tại Hoa Kỳ và chiến thắng giải Grammy cho Trình diễn solo rap nam xuất sắc nhất. Hai đĩa đơn tiếp theo "Role Model" và "Guilty Conscience" chỉ gặt hái những thành công hạn chế, trong đó đĩa đơn sau nhận được một đề cử giải Grammy ở hạng mục Trình diễn rap xuất sắc nhất của bộ đôi hoặc nhóm nhạc. Để quảng bá cho đĩa nhạc, nam rapper trình diễn trên một số chương trình truyền hình và lễ trao giải lớn, như MTV Spring Break, Total Request Live và giải Video âm nhạc của MTV năm 1999, cũng như tham gia vào chuyến lưu diễn Warped Tour với 31 đêm nhạc khắp Bắc Mỹ. Kể từ khi phát hành, thành công của The Slim Shady LP giúp Eminem từ một rapper underground trở thành một nghệ sĩ đại chúng nổi tiếng, đồng thời lọt vào danh sách những album xuất sắc nhất mọi thời đại của nhiều tổ chức và ấn phẩm âm nhạc, bao gồm 500 album vĩ đại nhất của Rolling Stone. Tính đến nay, đĩa nhạc đã bán được hơn mười triệu bản trên toàn cầu.
Danh sách bài hát
[sửa | sửa mã nguồn]Tất cả các ca khúc được viết bởi Marshall "Eminem" Mathers và The Bass Brothers (Mark Bass và Jeff Bass), ngoại trừ những ghi chú.
| The Slim Shady LP – Phiên bản tiêu chuẩn | ||||
|---|---|---|---|---|
| STT | Nhan đề | Sáng tác | Sản xuất | Thời lượng |
| 1. | "Public Service Announcement" | 0:33 | ||
| 2. | "My Name Is" |
| Dr. Dre | 4:28 |
| 3. | "Guilty Conscience" (hợp tác với Dr. Dre) |
|
| 3:19 |
| 4. | "Brain Damage" |
| 3:46 | |
| 5. | "Paul (skit)" | 0:15 | ||
| 6. | "If I Had" | 4:05 | ||
| 7. | "'97 Bonnie & Clyde" | 5:16 | ||
| 8. | "Bitch (skit)" | 0:19 | ||
| 9. | "Role Model" |
|
| 3:25 |
| 10. | "Lounge (skit)" | 0:46 | ||
| 11. | "My Fault" |
| 4:01 | |
| 12. | "Ken Kaniff (skit)" | 1:16 | ||
| 13. | "Cum on Everybody" (hợp tác với Dina Rae) |
| 3:39 | |
| 14. | "Rock Bottom" | Bass Brothers | 3:34 | |
| 15. | "Just Don't Give a Fuck" |
| 4:02 | |
| 16. | "Soap (skit)" | 0:34 | ||
| 17. | "As the World Turns" | 4:25 | ||
| 18. | "I'm Shady" |
| 3:31 | |
| 19. | "Bad Meets Evil" (hợp tác với Royce da 5'9") |
|
| 4:13 |
| 20. | "Still Don't Give a Fuck" |
| 4:12 | |
| Tổng thời lượng: | 59:39 | |||
| The Slim Shady LP – Phiên bản đặc biệt (đĩa kèm theo)[3] | ||
|---|---|---|
| STT | Nhan đề | Thời lượng |
| 1. | "Hazardous Youth (bản acapella)" | 0:47 |
| 2. | "Get You Mad" | 4:21 |
| 3. | "Greg (bản acapella)" | 0:53 |
| 4. | "Just Don't Give a Fuck (video ca nhạc)" | |
| 5. | "My Name Is (video ca nhạc)" | |
| 6. | "Guilty Conscience (video ca nhạc)" | |
| 7. | "Role Model (video ca nhạc)" | |
| 8. | "The Slim Shady LP (cảnh quay trực tiếp trong phòng thu)" | |
| The Slim Shady LP – Phiên bản mở rộng (bản nhạc bổ sung)[4] | ||
|---|---|---|
| STT | Nhan đề | Thời lượng |
| 21. | "Hazardous Youth (bản acapella)" | 0:44 |
| 22. | "Get You Mad" (với Sway và King Tech & DJ Revolution) | 4:22 |
| 23. | "Greg (bản acapella)" | 0:52 |
| 24. | "Bad Guys Always Die" (với Dr. Dre) | 4:39 |
| 25. | "Guilty Conscience (bản radio)" (hợp tác với Dr. Dre) | 3:19 |
| 26. | "Guilty Conscience (Không lời)" (hợp tác với Dr. Dre) | 3:20 |
| 27. | "Guilty Conscience (bản acapella)" (hợp tác với Dr. Dre) | 3:16 |
| 28. | "My Name Is (Không lời)" | 4:29 |
| 29. | "Just Don't Give a Fuck (bản acapella)" | 3:35 |
| 30. | "Just Don't Give a Fuck (Không lời)" | 4:08 |
| Tổng thời lượng: | 36:00 | |
Ghi chú
- ^[a] nghĩa là đồng sản xuất
- ^[b] nghĩa là tiền sản xuất
- Trong phiên bản sạch của album, "Bitch", "Cum on Everybody", "Just Don't Give a Fuck", và "Still Don't Give a Fuck" lần lượt được đổi tên thành "Zoe", "Come on Everybody", "Just Don't Give", và "Still Don't Give".
- Một số nền tảng trực tuyến (như Myspace) bao gồm một phiên bản sạch thay thế của album, loại bỏ hoàn toàn bài hát "Guilty Conscience".
Xếp hạng
[sửa | sửa mã nguồn]
Xếp hạng tuần
|
Xếp hạng cuối năm
|
Chứng nhận
[sửa | sửa mã nguồn]| Quốc gia | Chứng nhận | Số đơn vị/doanh số chứng nhận |
|---|---|---|
| Úc (ARIA)[42] | 8× Bạch kim | 560.000‡ |
| Canada (Music Canada)[43] | 2× Bạch kim | 200.000^ |
| Ý (FIMI)[44] Doanh số từ năm 2009 |
Vàng | 25.000‡ |
| Hà Lan (NVPI)[45] | Vàng | 50.000^ |
| New Zealand (RMNZ)[46] | Bạch kim | 15.000^ |
| Nam Phi (RISA)[47] | Vàng | 25.000* |
| Thụy Sĩ (IFPI)[48] | Vàng | 25.000^ |
| Anh Quốc (BPI)[49] | 4× Bạch kim | 1,100,000[50] |
| Hoa Kỳ (RIAA)[51] | 6× Bạch kim | 6,597,000[52][53] |
| Tổng hợp | ||
| Châu Âu (IFPI)[54] | Bạch kim | 1.000.000* |
|
* Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ. | ||
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Smith, Chris (2009). 101 Albums that Changed Popular Music. New York: Oxford University Press. ISBN 9780195373714. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2019.
- ↑ Peters, Mitchell (ngày 5 tháng 3 năm 2016). "Eminem Plans to Re-Release 'The Slim Shady LP' on Cassette". Billboard. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2024.
- ↑ "Eminem The Slim Shady LP - ltd edition 2-CD UK DOUBLE CD (177021)". Eil.com. ngày 8 tháng 2 năm 2001. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2012.
- ↑ "The Slim Shady LP (Expanded Edition) by Eminem on Apple Music". iTunes. ngày 22 tháng 2 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2019.
- ↑ "Australiancharts.com – Eminem – The Slim Shady LP" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2018.
- ↑ "ARIA Urban Chart – Week Commencing 12th February 2001" (PDF). The ARIA Report. Số 572. ngày 12 tháng 2 năm 2001. tr. 18. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2023 – qua National Library of Australia.
- ↑ "Austriancharts.at – Eminem – The Slim Shady LP" (bằng tiếng Đức). Hung Medien. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2018.
- ↑ "Ultratop.be – Eminem – The Slim Shady LP" (bằng tiếng Hà Lan). Hung Medien. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2018.
- ↑ "Ultratop.be – Eminem – The Slim Shady LP Special Edition". Hung Medien. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2018.
- ↑ "Ultratop.be – Eminem – The Slim Shady LP" (bằng tiếng Pháp). Hung Medien. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2018.
- ↑ "Ultratop.be – Eminem – The Slim Shady LP Special Edition". Hung Medien. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2018.
- ↑ "Eminem Chart History (Canadian Albums)". Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2018.
- ↑ "R&B : Top 50". Jam!. ngày 22 tháng 5 năm 2000. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 5 năm 2000. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2023.
- ↑ "Dutchcharts.nl – Eminem – The Slim Shady LP" (bằng tiếng Hà Lan). Hung Medien. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2018.
- ↑ "Lescharts.com – Eminem – The Slim Shady LP" (bằng tiếng Pháp). Hung Medien. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2018.
- ↑ "Offiziellecharts.de – Eminem – The Slim Shady LP" (bằng tiếng Đức). GfK Entertainment Charts. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2018.
- ↑ "GFK Chart-Track Albums: Week 41, 2000" (bằng tiếng Anh). Chart-Track. IRMA. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2018.
- ↑ "エミネムのアルバム売上ランキング". Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2011. Oricon Archive. Slim Shady LP. June 5, 2002
- ↑ "Charts.nz – Eminem – The Slim Shady LP" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2018.
- ↑ "Norwegiancharts.com – Eminem – The Slim Shady LP" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2018.
- ↑ "Swedishcharts.com – Eminem – The Slim Shady LP" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2018.
- ↑ "Swisscharts.com – Eminem – The Slim Shady LP" (bằng tiếng Đức). Hung Medien. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2018.
- ↑ "Swisscharts.com – Eminem – The Slim Shady LP Special Edition". Hung Medien. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2018.
- ↑ "Eminem | Artist | Official Charts" (bằng tiếng Anh). UK Albums Chart. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2020.
- ↑ "Official R&B Albums Chart Top 40" (bằng tiếng Anh). Official Charts Company. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2018.
- ↑ "Eminem Chart History (Billboard 200)". Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2018.
- ↑ "Eminem Chart History (Top R&B/Hip-Hop Albums)". Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2018.
- ↑ "Eminem Chart History (Top Catalog Albums)". Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2018.
- ↑ "RPM 1999: Top 100 CDs". RPM. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2021.
- ↑ "End of Year Album Chart Top 100 – 1999". Official Charts Company. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2020.
- ↑ "Top Billboard 200 Albums – Year-End 1999". Billboard. ngày 2 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2020.
- ↑ "Top R&B/Hip-Hop Albums – Year-End 1999". Billboard. ngày 2 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2020.
- ↑ "Canada's Top 200 Albums of 2000". Jam!. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2004. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "End of Year Album Chart Top 100 – 2000". Official Charts Company. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2020.
- ↑ "Billboard year end charts 2000". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2006.
- ↑ "Top R&B/Hip-Hop Albums – Year-End 2000". Billboard. ngày 2 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2020.
- ↑ "Jaaroverzichten 2001". Ultratop. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2020.
- ↑ "Canada's Top 200 R&B; albums of 2002". Jam!. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2003. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "Top 100 rap albums of 2002 in Canada". Jam!. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2003. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "End of Year Album Chart Top 100 – 2001". Official Charts Company. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2020.
- ↑ "Canada's Top 200 Alternative albums of 2002". Jam!. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 9 năm 2004. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "ARIA Charts – Accreditations – 2024 Albums" (PDF) (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2024.
- ↑ "Chứng nhận album Canada – Eminem – Slim Shady" (bằng tiếng Anh). Music Canada.
- ↑ "Chứng nhận album Ý – Eminem – The Slim Shady LP" (bằng tiếng Ý). Federazione Industria Musicale Italiana. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2024.
- ↑ "Chứng nhận album Hà Lan – Eminem – Slim Shady" (bằng tiếng Hà Lan). Nederlandse Vereniging van Producenten en Importeurs van beeld- en geluidsdragers. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2021. Nhập Slim Shady trong mục "Artiest of titel". Chọn 2001 trong tùy chọn "Alle jaargangen".
- ↑ "Chứng nhận album New Zealand – Eminem – The Slim Shady LP" (bằng tiếng Anh). Recorded Music NZ. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2024.
- ↑ "Eminem heading to South Africa for two shows". The Times. ngày 18 tháng 11 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "The Official Swiss Charts and Music Community: Chứng nhận ('The Slim Shady LP')" (bằng tiếng Đức). IFPI Thụy Sĩ. Hung Medien.
- ↑ "Chứng nhận album Anh Quốc – Eminem – The Slim Shady LP" (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry.
- ↑ Copsey, Rob (ngày 5 tháng 9 năm 2018). "Eminem's Top 10 biggest albums on the Official Chart". Official Charts Company. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2018.
- ↑ "Chứng nhận album Hoa Kỳ – Eminem – The Slim Shady LP" (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ.
- ↑ "Eight Eminem Albums Charted On Billboard 200 This Week". XXL. Harris Publications. ngày 13 tháng 11 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2022.
- ↑ David, Barry (ngày 8 tháng 2 năm 2003). "Shania, Backstreet, Britney, Eminem and Janet Top All Time Sellers". Music Industry News Network. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2015.
- ↑ "IFPI Platinum Europe Awards – 2007". Liên đoàn Công nghiệp ghi âm Quốc tế.
Tài liệu
[sửa | sửa mã nguồn]- Bozza, Anthony (2003). Whatever You Say I Am: The Life and Times of Eminem. New York, New York, United States: Crown Publishing Group. ISBN 1-4000-5059-6.
- Hartigan, John (2005). Odd Tribes: Toward a Cultural Analysis of White People. Duke University Press Books. ISBN 978-0-8223-3597-9.
- Hasted, Nick (2011). The Dark Story of Eminem. Omnibus Press. ISBN 978-1-84938-458-2.
- Huxley, Martin (2000). Eminem: Crossing the Line. Macmillan. ISBN 0-312-26732-0.
- Stubbs, David (2006). Eminem: The Stories Behind Every Song. Da Capo Press. ISBN 978-1-56025-946-6.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- The Slim Shady LP trên Discogs (danh sách phát hành)
- Album năm 1999
- Album của Eminem
- Album do Dr. Dre sản xuất
- Album do Eminem sản xuất
- Album horrorcore
- Giải Grammy cho Album rap xuất sắc nhất
- Tranh cãi liên quan đến khiêu dâm trong âm nhạc
- Tác phẩm đang bị kiện
- Album của Aftermath Entertainment
- Album của Interscope Records
- Album của Interscope Geffen A&M Records
- Album của Web Entertainment
