Robert Schuman
Bài viết này là công việc biên dịch đang được tiến hành từ bài viết Robert Schuman từ tiếng Anh sang tiếng Việt. Bạn có thể giúp Wikipedia bằng cách hỗ trợ dịch và trau chuốt lối hành văn tiếng Việt theo cẩm nang của Wikipedia. |
Robert Schuman | |
|---|---|
Robert Schuman (1953) | |
Chức vụ | |
| Nhiệm kỳ | 5 tháng 9 năm 1948 – 11 tháng 9 năm 1948 |
| Tiền nhiệm | André Marie |
| Kế nhiệm | Henri Queuille |
| Nhiệm kỳ | 24 tháng 11 năm 1947 – 26 tháng 7 năm 1948 |
| Tiền nhiệm | Paul Ramadier |
| Kế nhiệm | André Marie |
| Nhiệm kỳ | 26 tháng 7 năm 1948 – 8 tháng 1 năm 1953 |
| Tiền nhiệm | Georges Bidault |
| Kế nhiệm | Georges Bidault |
| Nhiệm kỳ | 19 tháng 3 năm 1958 – 18 tháng 3 năm 1960 |
| Tiền nhiệm | Hans Furler |
| Kế nhiệm | Hans Furler |
Thông tin cá nhân | |
| Quốc tịch | |
| Sinh | 29 tháng 6 năm 1886 Thành phố Luxembourg, Luxembourg |
| Mất | 4 tháng 9 năm 1963 (77 tuổi) Scy-Chazelles, Moselle, Pháp |
| Nơi ở | Đường Verneuil (Paris) Scy-Chazelles (Moselle) |
| Nghề nghiệp | |
| Tôn giáo | Công giáo |
| Đảng chính trị | Phong trào Cộng hòa Bình dân |
| Alma mater | Viện Đại học Friedrich Wilhelm Berlin Đại học Ludwig Maximilian München Viện Đại học Bonn Viện Đại học Strasbourg (Tiến sĩ Luật) |
| Chữ ký | |
Jean-Baptiste Nicolas Robert Schuman (phát âm tiếng Pháp: [ʁɔbɛʁ ʃuman]; 29 tháng 6 năm 1886 – 4 tháng 9 năm 1963) là một chính khách, nhà tư tưởng và nhà hoạt động theo trường phái Dân chủ Kitô giáo người Pháp (phong trào Cộng hòa Bình dân). Trong vai trò Thủ tướng Pháp và sau là Tổng trưởng Ngoại giao Pháp, ông đã góp phần tích cực vào công cuộc tái thiết châu Âu thời hậu chiến và xây dựng các thiết chế xuyên Đại Tây Dương: cụ thể, ông là vị đồng sáng lập của Cộng đồng châu Âu, Ủy hội châu Âu và NATO.[1] Tên ông được dùng để đặt tên cho năm học 1964–1965 tại Trường Đại học Châu Âu. Vào năm 2021, Giáo hoàng Phanxicô đã công nhận các nhân đức anh hùng của ông Robert Schuman và tôn ông lên bậc Đấng đáng kính. Đây là bước tiến đầu tiên trong quy trình tuyên hiển thánh của Giáo hội Công giáo.[2]
Thân thế
[sửa | sửa mã nguồn]
Jean-Baptiste Nicolas Robert Schuman sinh ngày 29 tháng 6 năm 1886 tại phường Clausen, Thành phố Luxembourg. Ông thừa hưởng quốc tịch Đức từ cha mình là cụ Jean-Pierre Schuman (q.đ. 1900). Cụ Schuman vốn là người gốc Lorraine và mang quốc tịch Pháp, tuy nhiên sau sự kiện Đức sáp nhập Lorraine vào năm 1871 thì cụ lấy quốc tịch Đức. Không lâu sau, cụ ông chuyển nhà sang nước Luxembourg, cách làng quê Evrange không xa là bao.
Mẹ của ông Schuman là bà Eugénie Suzanne Duren (q.đ. 1911), một người phụ nữ Luxembourg. Tuy là một chính khách nước Pháp, ông Schuman lại dành trọn tuổi thơ mình tại Thành phố Luxembourg và có thể nói tiếng Luxembourg như người bản xứ.
Ông Schuman theo học bậc trung học từ năm 1896 tại Trường Athénée de Luxembourg và tốt nghiệp tại đây vào năm 1903. Đến năm 1904, ông lãnh văn bằng Abitur tại Trường Trung học Hoàng gia ở thành phố Metz nước Đức và bắt đầu học ngành Luật tại Viện Đại học Bonn. Tại đây ông đã gia nhập Hội Sinh viên Học thuật Công giáo Unitas-Salia Bonn, một tổ chức thuộc Hiệp hội Học thuật Công giáo Unitas.[3] Sau đó, ông tiếp tục theo học tại Viện Đại học München, Viện Đại học Berlin rồi Viện Đại học Strasbourg và hoạt động sôi nổi trong hội Unitas của các trường. Ông tốt nghiệp văn bằng Tiến sĩ Luật hạng xuất sắc tại Viện Đại học Strasbourg.[4]
Vào năm 1912, ông Schuman hành nghề luật sư tại thành phố Metz và gia nhập Liên hiệp Bình dân Công giáo Pháp.[5] Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra vào năm 1914, ông được lệnh nhập ngũ từ Lục quân Đức nhưng được miễn thi hành nghĩa vụ vì lý do sức khỏe. Từ năm 1915 đến năm 1918, ông phục vụ trong chính quyền Huyện Bolchen nước Đức.[6]
Giữa hai thế chiến
[sửa | sửa mã nguồn]
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, vùng đất Alsace–Lorraine được trao trả cho Pháp. Ông Schuman lấy quốc tịch Pháp vào năm 1918.[7]
Kể từ đó, ông Schuman bắt đầu hoạt động chính trị tại Pháp. Vào năm 1919, ông được bầu làm dân biểu Hạ nghị viện theo danh sách ứng cử viên vùng và đến sau thì làm dân biểu thành phố Thionville, tỉnh Moselle cho tới năm 1958 (ông phải tạm ngừng công việc của mình trong thời kỳ chiến tranh). Trong thời gian tại nhiệm, ông đã góp phần quan trọng trong việc soạn thảo và thúc đẩy trong Hạ nghị viện một dự luật nhằm tái thiết lập Luật Dân sự và Luật Thương mại Pháp trên vùng đất Alsace–Lorraine, vốn duy trì hệ thống luật pháp Đức ngay cả sau khi được trao trả cho Pháp. Thành quả của sự hòa trộn giữa luật pháp vùng Alsace–Lorraine với lề luật nước Pháp khi ấy được người ta gọi với cái tên "Lex Schuman" (n.đ. 'Luật Schuman').[8] Ông Schuman từng phát động một cuộc điều tra và phát hiện ra vụ tham nhũng thời hậu chiến trong ngành công nghiệp thép tại Lorraine và trong ngành đường sắt tại Alsace–Lorraine, vốn bị mua lại với giá rẻ mạt bởi Gia tộc de Wendel quyền thế, điều mà ông gọi là "một vụ cướp trắng trợn" trước Quốc hội lưỡng viện.[9]
Chiến tranh thế giới thứ hai
[sửa | sửa mã nguồn]Đến năm 1940, nhờ hiểu biết sâu sắc về nước Đức, ông Schuman đã được bổ nhiệm làm Phó Quốc vụ khanh đặc trách người tỵ nạn trong chính phủ thời chiến của Thủ tướng Paul Reynaud.[10] Ông Schuman tiếp tục giữ chức vụ này trong Nội các Pétain thứ nhất. Vào ngày 10 tháng 7, ông bỏ phiếu ủng hộ việc trao toàn bộ quyền lực chính phủ cho Thống chế Philippe Pétain, người chủ trương đình chiến với Đức.[11] Tuy nhiên, chỉ hai ngày sau, ông đã đệ đơn xin từ chức và không tham gia chính phủ này.[12] Vài ngày sau đó, Đức Quốc Xã sáp nhập tỉnh Moselle vào Hạt Westmark, lỵ sở đặt tại thành phố Saarbrücken. Ngay khi về đến Moselle, ông Schuman đã bị lực lượng Gestapo bắt giữ và giam biệt lập tại nhà giam thành phố Metz. Đến ngày 13 tháng 4 năm 1941, ông được thuyên chuyển về thành phố Neustadt an der Weinstraße (nay thuộc tiểu bang Rheinland-Pfalz) và chỉ chịu quản thúc tại gia nhờ sự can thiệp của luật sư người Đức Heinrich Welsch. Trong thời gian an trí, ông trò chuyện với khách viếng thăm bằng tiếng Luxembourg nhằm giữ bí mật.[13]
Sau khi đào tẩu khỏi nơi an trí, ông chạy thoát đến tỉnh Vienne thuộc vùng tự do vào ngày 13 tháng 8 năm 1942, đến trú tại Đan viện Ligugé trong 10 ngày, rồi vượt giới tuyến quân sự ở xã Vernon.[14] Ông cũng ghé qua Tu viện Đức Bà Xuống Tuyết ở tỉnh Ardèche nước Pháp. Ông Schuman đến sống tại thành phố Lyon, nơi nhiều người dân gốc Moselle đến định cư sau khi bị trục xuất. Thông qua một người bạn là quan cảnh sát Charles-Albert Watiez, ông Schuman giữ liên lạc được với nhiều người tỵ nạn và tham gia vào cuộc thiết lập Ủy ban Lorraine cùng với Robert Sérot, Gabriel Hocquard, Ségolène de Wendel, Paul Durand, Bác sĩ Melchior Marmonier và René Jager.[15]
Giải phóng và thanh trừng
[sửa | sửa mã nguồn]Sau khi nước Pháp được giải phóng, Tổng trưởng Chiến tranh Pháp là André Diethelm đã yêu cầu loại bỏ ông Schuman ngay lập tức, cáo buộc ông là "sản phẩm của chế độ Vichy".[16] Nguyên do là vào ngày 10 tháng 7 năm 1940, ông Schuman đã bỏ phiếu ủng hộ việc trao toàn bộ quyền lực chính phủ cho Thống chế Pétain, cũng như việc ông từng giữ chức “tổng trưởng trong Nội các Pétain”.[16] Chính vì lá phiếu hôm ấy, chiếu theo Sắc lệnh ngày 21 tháng 4 năm 1944, Schuman tự động bị tước quyền tham gia chính trị. Thêm vào đó, do từng giữ chức vụ trong Chính phủ Vichy, ông còn bị tước các danh hiệu quốc gia.[16] Với mong muốn được quay lại chính trường, vào ngày 24 tháng 7 năm 1945, ông Schuman đã viết thư cho Tướng Charles de Gaulle, xin xem xét lại quyết định này.[16] Những người ủng hộ ông đã can thiệp với người đứng đầu Chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp để ủng hộ yêu cầu này. Cuối cùng, Tướng Charles de Gaulle đã quyết định khép lại vụ việc.[16]
Thật vậy, vào ngày 16 tháng 6 năm 1940, sau ngày ông Schuman từ chức, Thống chế Pétain đã tái bổ nhiệm ông vào chức vụ cũ trong Nội các Paul Reynaud mà không hề hỏi ý kiến ông.[17] Vài ngày sau, Schuman nộp đơn xin từ chức khỏi Chính phủ Pétain,[17] và đơn này được chấp nhận ngay khi Nội các đầu tiên của Chính phủ Vichy được thành lập.[18] Dù chưa từng tham gia hay họp mặt với chính phủ đó, ông vẫn bị chỉ trích và làm khó sau chiến tranh chỉ vì tên ông từng nằm trong danh sách thành viên Nội các Pétain.[17]
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ "Schuman biography: chronology" [Tiểu sử ông Schuman theo từng năm]. www.schuman.info (bằng tiếng Anh).
- ↑ "Nhà sáng lập liên minh châu Âu Robert Schuman được tôn lên bậc Đấng Đáng kính". Vatican News. ngày 21 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Palayret 2022, tr. 92–93.
- ↑ "Robert Schuman: the architect of the European integration project" (PDF). European Union (bằng tiếng Anh). ngày 16 tháng 6 năm 2016. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 4 năm 2016.
- ↑ Palayret 2022, tr. 91, 93.
- ↑ "Biography" [Tiểu sử ông Robert Schuman]. Centre européen Robert Schuman (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 6 năm 2013.
- ↑ Palayret 2022, tr. 92.
- ↑ "Conférence à l'occasion du 60e anniversaire de la Déclaration Schuman : Fondation d'une gouvernance en Europe - Europaforum Luxembourg - Mai 2010". Europaforum Luxembourg (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2017.
- ↑ Lejeune, René (2000). Robert Schuman, père de l'Europe. Paris: Fayard. tr. 98. ISBN 9782213606354.
- ↑ "Décrets, arrêtés et circulaires" [Các sắc lệnh, nghị định và thông tư]. Công báo Cộng hòa Pháp (bằng tiếng Pháp). Quyển Năm thứ 72 số 76. ngày 22 tháng 3 năm 1940. tr. 26.
- ↑ Malingre, Virginie (ngày 9 tháng 7 năm 2021). "Robert Schuman sur le chemin de la béatification" [Robert Schuman trên hành trình tuyên phong chân phước]. Le Monde (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2021.
- ↑ "Biographie extraite du dictionnaire des parlementaires français de 1889 à 1940 (Jean Jolly)". Assemblée nationale.
- ↑ Ditsch, Georges (1984). "Un grand Lorrain dans la tourmente (Robert Schuman 1939–1945)". Les Cahiers du Pays Thionvillois. Số 1.
- ↑ Renard-Darson, Sabine. "Robert Schuman à Poitiers et à Ligugé". V.R.I.D (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2017.
- ↑ Roth 2008, tr. 257–258.
- 1 2 3 4 5 Poidevin, Raymond (1988). "Robert Schuman : un itinéraire étonnant". Fondation Robert Schuman (bằng tiếng Pháp).
- 1 2 3 Lejeune 1986, tr. 82.
- ↑ "Décret du 12 juillet 1940 portant nomination des ministres" [Sắc lệnh ngày 12 tháng 7 năm 1940 bổ nhiệm các tổng trưởng]. Công báo Cộng hòa Pháp (bằng tiếng Pháp). Số 169. ngày 13 tháng 7 năm 1940. tr. 4522.
Đọc thêm
[sửa | sửa mã nguồn]- Roth, François (tháng 12 năm 2008). Robert Schuman, du Lorrain des frontières au père de l'Europe [Robert Schuman, từ chàng trai Lorraine vùng biên giới đến cha già của châu Âu] (bằng tiếng Pháp). Paris: Fayard. ISBN 978-2-213-63759-4.
- Lejeune, René (1986). Robert Schuman : une âme pour l'Europe [Robert Schuman: một tâm hồn vì châu Âu] (bằng tiếng Pháp). Paris: Saint Paul. ISBN 2-85049-339-2.
- Avery, Graham. "Robert Schuman on Hungary and Europe." Hungarian Quarterly 198 (2010): 3–16.
- Domingo, Rafael. "Robert Schuman and the process of European integration." in Christianity and Global Law (2020) pp 178–194.
- Fimister, Alan. Robert Schuman: Neo-Scholastic Humanism and the Reunification of Europe (2008)
- Hitchcock, William I. "France, the Western Alliance, and the origins of the Schuman Plan, 1948–1950." Diplomatic History 21.4 (1997): 603–630.
- Kaiser, Wolfram. "From state to society? The historiography of European integration." in Michelle Cini and Angela K. Bourne, eds. Palgrave Advances in European Union Studies (Palgrave Macmillan UK, 2006). pp. 190–208.
- Langley, McKendree R. "Robert Schuman and the Politics of Reconciliation." Pro Rege 10.4 (1982): 8–16. online
- Palayret, Jean-Marie (ngày 26 tháng 10 năm 2022). "The Schuman Declaration of 9 May 1950". Trong Gehler, Michael; Guasconi, Maria Eleonora; Pierini, Francesco (biên tập). Narrating Europe: Speeches on European Integration (1946–2020) (bằng tiếng Anh). Nomos Verlag. ISBN 978-3-7489-2827-0. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2024.
- Schuman, Robert. "France and Europe." Foreign Affairs, Vol. 31, No. 3, April 1953, pp. 349–360. doi:10.2307/20030969. JSTOR 20030969.
