close
Bước tới nội dung

Leon Goretzka

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Leon Goretzka
BERJAYA
Goretzka trong màu áo đội tuyển Đức tại FIFA World Cup 2026
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Leon Christoph Goretzka[1]
Ngày sinh 6 tháng 2, 1995 (31 tuổi)[2]
Nơi sinh Bochum, Đức
Chiều cao 1,89 m (6 ft 2 in)[3]
Vị trí Tiền vệ
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
Năm Đội
1999–2001 Werner SV 06 Bochum
2001–2012 VfL Bochum
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2012–2013 VfL Bochum 32 (4)
2013–2018 Schalke 04 116 (14)
2015 Schalke 04 II 1 (0)
2018–2026 Bayern Munich 211 (40)
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Năm Đội ST (BT)
2010–2011 U-16 Đức 10 (2)
2011–2012 U-17 Đức 17 (5)
2012–2014 U-19 Đức 3 (0)
2013–2015 U-21 Đức 10 (1)
2016 U-23 Đức 1 (0)
2014– Đức 73 (15)
Thành tích huy chương
Đại diện cho BERJAYA Đức
Thế vận hội Mùa hè
Huy chương bạc – vị trí thứ haiRio de Janeiro 2016Đội hình
Giải vô địch bóng đá U-17 châu Âu
Á quânSlovenia 2012
Cúp Liên đoàn các châu lục
Vô địchNga 2017
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 15:28, 16 tháng 5 năm 2026 (UTC)
‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 15:51, 30 tháng 6 năm 2026 (UTC)

Leon Christoph Goretzka (phát âm tiếng Đức: [leˈoːn ɡoˈʁɛtska]; sinh ngày 6 tháng 2 năm 1995) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Đức hiện đang thi đấu ở vị trí tiền vệ cho đội tuyển bóng đá quốc gia Đức.

Bắt đầu sự nghiệp tại câu lạc bộ VfL Bochum vào năm 2012, Goretzka đã thi đấu hơn 100 trận tại Bundesliga trong màu áo Schalke 04 trước khi ký hợp đồng với câu lạc bộ Bayern Munich vào năm 2018. Là một tuyển thủ quốc gia từ năm 2014, anh đã có hơn 70 lần khoác áo đội tuyển Đức và đại diện cho đất nước này tham dự FIFA World Cup vào những năm 2018, 20222026, và cũng tham dự cả kỳ UEFA Euro 2020. Anh cũng là thành viên của đội tuyển Đức đã giành chức vô địch Cúp Liên đoàn các châu lục 2017đội tuyển Olympic Đức giành được tấm huy chương Bạc bộ môn bóng đá tại Thế vận hội Mùa hè 2016.

Sự nghiệp câu lạc bộ

[sửa | sửa mã nguồn]

VfL Bochum

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1999, Goretzka bắt đầu sự nghiệp của mình với Werner SV 06 Bochum. Anh ấy ở lại WSV trong hai năm trước khi chuyển đến VfL Bochum vào năm 2001.[4]

Vào ngày 30 tháng 7 năm 2012, Goretzka đã được trao tặng huy chương Vàng U-17 Fritz Walter vào năm 2012.[5] Vào ngày 4 tháng 8 năm 2012, anh có trận ra mắt chuyên nghiệp cho Bochum tại 2. Bundesliga gặp Dynamo Dresden tại sân vận động rewirpowerSTADION.[6]

Goretzka đã có một mùa giải 2012–13 ấn tượng tại câu lạc bộ VfL Bochum và là cầu thủ nổi bật nhất của đội khi Bochum suýt chút nữa xuống hạng khỏi 2. Bundesliga. Trong mùa giải đó, Goretzka được liên hệ với nhiều câu lạc bộ lớn ở châu Âu, bao gồm Bayern Munich, Manchester United, ArsenalReal Madrid. Matthias Sammer, giám đốc thể thao của Bayern Munich lúc bấy giờ, được cho là đã gặp Goretzka để thuyết phục anh gia nhập Bayern vào mùa hè năm 2013.[7]

Schalke 04

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 30 tháng 6 năm 2013, Schalke 04 xác nhận việc chuyển nhượng Goretzka từ Bochum. Anh ký hợp đồng 5 năm đến ngày 30 tháng 6 năm 2018. Phí chuyển nhượng được cho là rơi vào khoảng 3,25 triệu euro.[8]

Mùa giải 2013–14

[sửa | sửa mã nguồn]
BERJAYA
Goretzka tập luyện trong màu áo Schalke 04 vào năm 2013

Trong mùa giải 2013–14, Goretzka đã có một mùa giải đầu tiên đầy hứa hẹn, ghi được 5 bàn thắng trong 32 lần ra sân ở tất cả các đấu trường. Anh trở thành cầu thủ đá chính thường xuyên trong nửa sau của mùa giải và giúp Schalke kết thúc ở vị trí thứ ba tại Bundesliga, sau nhà vô địch Bayern Munich và Borussia Dortmund.[9] Cuối mùa giải, Goretzka được triệu tập vào đội hình sơ bộ 30 người của đội tuyển quốc gia Đức tham dự FIFA World Cup 2014 tại Brasil. Anh có trận ra mắt trong một trận giao hữu với Ba Lan trước thềm World Cup khởi tranh.[10]

Mùa giải 2014–15

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong mùa giải 2014–15, Goretzka chỉ ra sân 11 trận ở tất cả các đấu trường[11] do chấn thương đùi. Anh trở lại thi đấu ở vòng 24 trong trận gặp TSG 1899 Hoffenheim. Goretzka chỉ chơi 10 trận ở Bundesliga trong mùa giải đó. Schalke đã có một mùa giải đáng thất vọng và kết thúc ở vị trí thứ sáu tại Bundesliga.[12]

Mùa giải 2015–16

[sửa | sửa mã nguồn]
BERJAYA
Goretzka tập luyện trong màu áo Schalke 04 vào năm 2015

Trong mùa giải 2015–16, Goretzka đã ghi được hai bàn thắng trong 34 lần ra sân ở tất cả các giải đấu.[13] Anh đã hoàn toàn bình phục vào đầu mùa giải, nhưng lại gặp phải một số chấn thương trong xuyên suốt mùa giải. Goretzka cũng được chẩn đoán mắc bệnh viêm ruột mãn tính trong mùa giải và cho biết: "Tôi được chẩn đoán mắc bệnh viêm ruột mãn tính, điều này đã ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng hồi phục của tôi." Goretzka tiếp tục: "Vì vậy, tôi đã hoàn toàn thay đổi chế độ ăn uống của mình, loại bỏ gluten, sữa bò, thịt lợn và các loại hạt. Kết quả là, tôi ít gặp vấn đề về sức khỏe hơn và có thể hồi phục sau mỗi trận đấu nhanh hơn nhiều."[12]

Mùa giải 2016–17

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong mùa giải 2016–17, Goretzka đã thi đấu số trận cao nhất trong sự nghiệp của mình là 41 trận trên mọi đấu trường và ghi được 8 bàn thắng.[14] Đây được coi là mùa giải tốt nhất của Goretzka cho đến nay khi anh tỏa sáng trong vai trò tấn công. Vào ngày 20 tháng 4, Goretzka bị chấn động não và gãy xương hàm kép trong trận đấu với Ajax tại khuôn khổ UEFA Europa League. Anh vẫn tiếp tục thi đấu gần như toàn bộ trận đấu cho đến khi được thay ra ở phút 84. Schalke kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 10 đáng thất vọng tại Bundesliga và không giành được suất tham dự các đấu trường châu Âu.[12]

Mùa giải 2017–18

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong mùa giải 2017–18, Goretzka đã ra sân 29 trận ở tất cả các đấu trường và ghi được 4 bàn thắng.[15] Đây là mùa giải đầu tiên anh không tham dự các giải đấu châu Âu kể từ khi gia nhập Schalke vào năm 2013. Anh gặp vấn đề về phản ứng căng thẳng ở xương cẳng chân, khiến anh phải nghỉ thi đấu hơn hai tháng. Goretzka đã giúp Schalke cán đích ở vị trí thứ hai sau nhà vô địch Bayern Munich để giành quyền tham dự UEFA Champions League lần đầu tiên kể từ mùa giải 2014–15.

Vào ngày 25 tháng 11 năm 2017, anh chơi trận đấu thứ 100 tại Bundesliga trong trận gặp đối thủ truyền kiếp của Schalke, Borussia Dortmund. Vào ngày 19 tháng 1 năm 2018, Goretzka tuyên bố sẽ rời Schalke vào mùa hè năm 2018 để gia nhập đối thủ Bayern Munich. Quyết định của anh không được người hâm mộ và ban lãnh đạo Schalke đón nhận tích cực. Chủ tịch hội đồng giám sát của Schalke, Clemens Tönnies, đã bày tỏ phản ứng đầu tiên của mình về quyết định của Goretzka trên một chương trình bình luận bóng đá. Tönnies nói: "Phản ứng đầu tiên của tôi là, anh ta không nên mặc áo đấu của Schalke nữa." Tönnies nói rằng Goretzka có thể bị buộc phải ngồi trên khán đài nếu quyết định của anh ta gây ảnh hưởng tiêu cực đến đội bóng.[16]

Bayern Munich

[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải 2018–19

[sửa | sửa mã nguồn]
BERJAYA
Goretzka trong màu áo Bayern Munich vào năm 2019

Ngày 1 tháng 7 năm 2018, Goretzka chính thức gia nhập câu lạc bộ Bayern và ký một hợp đồng có thời hạn bốn năm, đến tháng 6 năm 2022.[17] Vào ngày 12 tháng 8 năm 2018, trong trận siêu cúp Đức 2018, anh ấy vào sân thay cho Thomas Müller ở phút thứ 64.[18] Đây là lần đầu tiên Goretzka khoác áo câu lạc bộ Bayern.[19] Vào ngày 1 tháng 9, anh ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ trong chiến thắng 3–0 trên sân khách trước VfB Stuttgart.[20] Một năm sau, vào ngày 19 tháng 1 năm 2019, anh lập cú đúp đầu tiên trong sự nghiệp tại Bundesliga, lập một cú đúp trong chiến thắng 3–1 trước Hoffenheim.[21] Vào ngày 15 tháng 2 năm 2019, Goretzka phản lưới nhà trong một trận đấu Bundesliga chỉ sau 13 giây; chưa có cầu thủ nào của Bayern chạm bóng sau cùng ở pha bóng đó.[22]

Vào ngày 18 tháng 5 năm 2019, Goretzka giành được danh hiệu Bundesliga đầu tiên trong sự nghiệp khi Bayern kết thúc mùa giải với 78 điểm, hơn Dortmund hai điểm. Một tuần sau, anh giành được danh hiệu DFB-Pokal đầu tiên sau khi Bayern đánh bại RB Leipzig với tỷ số 3–0 trong trận chung kết Cúp bóng đá Đức 2019. Nhưng anh không ra sân trong trận đấu đó vì chấn thương.[23]

Mùa giải 2019–20

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 26 tháng 11 năm 2019, Goretzka đã ghi bàn thắng đầu tiên của mình tại Champions League trong trận thắng 6–0 trên sân khách trước Red Star Belgrade.[24] Anh đóng vai trò quan trọng trong cú ăn ba của Bayern dưới thời Hansi Flick. Anh ra sân trong hầu hết tất cả các trận đấu, bao gồm toàn bộ các trận đấu tại Champions League, tạo thành bộ đôi tiền vệ trung tâm cùng với Joshua Kimmich. Sau khi Benjamin Pavard gặp chấn thương và Kimmich được yêu cầu chơi ở vị trí hậu vệ phải, Goretzka đã được bố trí chơi ở vị trí tiền vệ box-to-box bên cạnh Thiago Alcântara, bao gồm cả trong trận chung kết UEFA Champions League 2020.[cần dẫn nguồn]

2020–2026

[sửa | sửa mã nguồn]
BERJAYA
Goretzka tập luyện trong màu áo Bayern Munich vào 2025

Vào ngày 24 tháng 9 năm 2020, Goretzka đã ghi bàn trong chiến thắng 2–1 trước Sevilla sau hiệp phụ trong trận Siêu cúp châu Âu 2020.[25] Vào tháng 4 năm 2021, anh đã bỏ lỡ trận lượt về gặp Paris Saint-Germain ở tứ kết UEFA Champions League 2020–21 do chấn thương cơ.[26] Tuy nhiên, anh đã kết thúc mùa giải với chức vô địch Bundesliga lần thứ ba liên tiếp.[27]

Trước mùa giải 2021–22, Goretzka được trao chiếc áo số 8, số áo mà Javi Martínez để lại. Vào ngày 17 tháng 8 năm 2021, Goretzka cùng với Bayern giành chức vô địch Siêu cúp Đức 2021, thi đấu trọn 90 phút. Một tháng sau, vào ngày 16 tháng 9, Bayern thông báo Goretzka đã ký hợp đồng mới, giữ anh ở lại câu lạc bộ đến năm 2026.[28]

Vào ngày 12 tháng 10 năm 2022, anh lập một cú đúp trong chiến thắng 4–2 trên sân khách trước Viktoria Plzeň, qua đó giúp Bayern giành quyền vào vòng đấu loại trực tiếp Champions League.[29] Vào ngày 24 tháng 1 năm 2024, anh có trận đấu thứ 200 cho Bayern trên mọi đấu trường trong chiến thắng 1–0 trước Union Berlin.[30]

Vào ngày 30 tháng 1 năm 2026, Bayern Munich thông báo rằng Goretzka sẽ không được gia hạn hợp đồng với câu lạc bộ, và anh sẽ rời câu lạc bộ vào cuối mùa giải 2025–26.[31] Vào ngày 11 tháng 4 năm 2026, Goretzka đã phá kỷ lục mọi thời đại của Bayern từ mùa giải 1971–72 về số bàn thắng nhiều nhất trong một mùa giải, khi anh ghi bàn thắng thứ 102 của mùa giải đó trong chiến thắng 5–0 trước St. Pauli.[32][33]

Sự nghiệp quốc tế

[sửa | sửa mã nguồn]

Thời trẻ

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 15 tháng 10 năm 2010, Goretzka có trận ra mắt đội tuyển U-16 Đức trong trận giao hữu với đội tuyển U-16 Bắc Ireland. Anh ghi bàn trong chiến thắng 3–2.[34][35] Ngày 24 tháng 8 năm 2011, anh có trận ra mắt đội tuyển U-17 Đức trong trận đấu với đội tuyển U-17 Thổ Nhĩ Kỳ và giành chiến thắng 4–0.[36][37] Tháng 5 năm 2012, anh được chọn làm đội trưởng của đội tuyển U-17 Đức tại Giải vô địch bóng đá U-17 châu Âu 2012 ở Slovenia và dẫn dắt đội tuyển U-17 Đức vào đến trận chung kết gặp đội tuyển Hà Lan.[38] Trong trận chung kết Giải vô địch bóng đá U-17 châu Âu 2012, Goretzka ghi bàn thắng đầu tiên của trận đấu; và bàn thắng của anh được gỡ hòa ở phút bù giờ, đưa tỷ số lên 1–1. Sau đó, Hà Lan đã giành chiến thắng trong loạt sút luân lưu.[38]

Vào ngày 8 tháng 8 năm 2013, anh ra mắt đội tuyển U-21 Đức dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên Horst Hrubesch trong trận hòa 0–0 với đội tuyển U-21 Pháp, một trận đấu mà anh đã có màn trình diễn xuất sắc.[39] Goretzka đã được đội tuyển quốc gia Ba Lan liên hệ nhưng anh đã từ chối lời đề nghị vì anh không biết mình có gốc gác Ba Lan nào.[40][41]

Đội tuyển Olympic

[sửa | sửa mã nguồn]

Cùng với đồng đội ở Schalke là Max Meyer, Goretzka đã được chọn vào đội tuyển Olympic tham dự Thế vận hội Mùa hè 2016.[42] Anh đeo băng đội trưởng đội tuyển Olympic Đức trong trận đấu đầu tiên gặp México, nhưng bị chấn thương vai và phải trở về Gelsenkirchen điều trị.[43]

Đội tuyển quốc gia

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 8 tháng 5 năm 2014, Goretzka được HLV trưởng đội tuyển Đức, Joachim Löw, đưa vào danh sách sơ bộ 30 cầu thủ của đội tuyển quốc gia Đức tham dự FIFA World Cup 2014.[44] Ngày 13 tháng 5 năm 2014, anh có trận ra mắt trong trận hòa 0–0 với Ba Lan.[45] Sau trận đấu giữa Đức và Ba Lan, trong đó Goretzka bị chấn thương cơ, anh đã bị loại khỏi trại huấn luyện chuẩn bị vào đội hình cuối cùng tham dự FIFA World Cup 2014 tại Brasil.[46]

Vào tháng 5 năm 2017, Goretzka được triệu tập vào đội tuyển Đức tham dự Cúp Liên đoàn các châu lục 2017 tại Nga.[47] Trong trận đấu mở màn của đội tuyển Đức tại giải đấu vào ngày 20 tháng 6, anh đã ghi bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển Đức trong chiến thắng 3–2 trước Úc.[48] Goretzka lập một cú đúp vào lưới đội tuyển México ở bán kết. Và cùng với Timo WernerLars Stindl cùng nhau giành danh hiệu vua phá lưới của giải đấu với ba bàn thắng. Đội tuyển quốc gia Đức sau cùng đã giành chức vô địch giải đấu, đánh bại Chile trong trận chung kết tại Saint Petersburg.[49]

BERJAYA
Goretzka trong màu áo đội tuyển Đức vào năm 2017

Vào ngày 4 tháng 6 năm 2018, Goretzka được điền tên vào đội hình 23 cầu thủ cuối cùng của Đức tham dự FIFA World Cup 2018.[50] Ngày 27 tháng 6, anh có trận ra mắt đấu trường FIFA World Cup trong trận đấu cuối cùng của vòng bảng ở trận thua 0–2 trước Hàn Quốc, khiến đội tuyển của anh bị loại khỏi World Cup ngay từ vòng bảng lần đầu tiên kể từ lần gần nhất vào năm 1938.[51] Ngày 19 tháng 5 năm 2021, anh được chọn vào danh sách đội tuyển Đức tham dự UEFA Euro 2020.[52] Anh ghi một bàn thắng trong trận đấu cuối cùng vòng bảng, trận hòa 2–2 với Hungary, giúp cho tuyển Đức tránh được việc bị loại.[53] Ngày 10 tháng 11 năm 2022, anh được chọn vào danh sách đội tuyển Đức tham dự FIFA World Cup 2022 tại Qatar.[54] Vào tháng 5 năm 2024, anh bị loại khỏi đội hình 26 người tham dự UEFA Euro 2024, được tổ chức trên sân nhà, bởi huấn luyện viên cũ của anh tại Bayern, Julian Nagelsmann.[55] Hai năm sau, anh được triệu tập vào đội hình cuối cùng của tuyển Đức tham dự FIFA World Cup 2026.[56]

Phong cách chơi bóng

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2013, Goretzka được đánh giá là một trong những tài năng sáng giá nhất của bóng đá Đức.[57][58] Peter Neururer, huấn luyện viên trưởng của Goretzka tại Bochum, cho biết ông "chưa từng thấy một cầu thủ 18 tuổi nào có tiềm năng như Goretzka", và gọi anh là "tài năng của thế kỷ".[59] Goretzka có khả năng ghi bàn sắc bén, kỹ năng kiểm soát bóng tốt và khả năng chuyền bóng chính xác cho đồng đội.[60] Anh thường tung ra những cú sút vô cùng mạnh từ ngoài vòng cấm.[60] Anh cũng nổi tiếng với khả năng đánh đầu xuất sắc, và cũng thường xuyên ghi bàn bằng đầu.[60] Với chiều cao 1,89 m, khả năng bật nhảy cao giúp Goretzka giành chiến thắng trong các pha tranh chấp trên không với các hậu vệ mạnh mẽ và cao lớn.[58] Vị trí đá chính của anh là tiền vệ trung tâm, anh cũng có thể được bố trí ở vị trí tiền vệ phòng ngự, tiền vệ cánh phải và tiền vệ kiến ​​thiết.[58][61] Lối chơi của Goretzka thường được so sánh với hai huyền thoại bóng đá Đức, Lothar MatthäusMichael Ballack.[62]

Đời tư

[sửa | sửa mã nguồn]

Goretzka sinh ra ở Bochum, Bắc Rhine-Westphalia.[63] Anh cũng hoàn thành chương trình trung học phổ thông (Abitur) và tốt nghiệp trường Alice-Salomon (Trường dạy nghề Alice-Salomon) ở Bochum.[64] Cha anh, Konrad, là một người làm trong ngành kỹ thuật ô tôkỹ thuật điện cho hãng xe Opel.[65] Tổ tiên bên nội của Goretzka là người Ba Lan sống ở vùng Ruhr.[66] Mẹ anh, Katharina, là linh mục tại giáo xứ Tin lành Altenbochum-Laer[67] và bà cũng làm quản lý kinh doanh tại nhiều cơ sở ở Bochum.

Vào năm 2020, Goretzka đã khởi xướng một sáng kiến ​​trực tuyến, "We Kick Corona", cùng với đồng đội Joshua Kimmich của Bayern Munich, để hỗ trợ các tổ chức từ thiện, xã hội hoặc y tế trong thời gian đại dịch COVID-19 bùng nổ.[68]

Goretzka là một nhà hoạt động chống lại tội ác thù hận, anh đã từng đến thăm đài tưởng niệm Dachau Holocaust và cũng gặp gỡ người sống sót hậu Holocaust Margot Friedländer. Anh là người chỉ trích đảng chính trị cực hữu Alternative für Deutschland, anh gọi họ là "nỗi ô nhục của nước Đức" và nói rằng "khi một đảng được ủng hộ và lãnh đạo bởi những người phủ nhận về chế độ Holocaust và cả những người phủ nhận Corona, thì họ đang tự bộc lộ bản chất của mình".[69][70]

Bên cạnh bóng đá, Goretzka cũng đã đầu tư vào một công ty tiếp thị vào năm 2014. Vào tháng 8 năm 2020, anh thành lập một công ty bất động sản, LivinCG inmobilien GMBH,[71] do bạn gái anh quản lý.

Thống kê sự nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ

[sửa | sửa mã nguồn]
Tính đến 23 tháng 5 năm 2026
Số lần ra sân và bàn thắng theo câu lạc bộ, mùa giải và giải đấu
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu DFB-Pokal Châu Âu Khác Tổng cộng
Hạng đấuTrậnBànTrậnBànTrậnBànTrậnBànTrậnBàn
VfL Bochum 2012–13[4] 2. Bundesliga 32440364
Schalke 04 2013–14[9] Bundesliga 254215[a]0325
2014–15[11] 100001[a]0110
2015–16[13] 251217[b]0342
2016–17[14] 305209[b]3418
2017–18[15] 26430294
Tổng cộng 116149222314719
Schalke 04 II 2014–15[11] Regionalliga West 1010
Bayern Munich 2018–19[18][72] Bundesliga 308516[a]01[c]0429
2019–20[73] 246518[a]11[c]0388
2020–21[74] 245007[a]21[d]1328
2021–22[75] 193106[a]01[c]0273
2022–23[76] 273418[a]200396
2023–24[77] 3061010[a]01[c]0426
2024–25[78] 2642012[a]13[e]1436
2025–26[79] 3156010[a]01[c]0485
Tổng cộng 211402436869231251
Tổng cộng sự nghiệp 360583759099255974
  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Số lần ra sân tại UEFA Champions League
  2. 1 2 Số lần ra sân tại UEFA Europa League
  3. 1 2 3 4 5 Ra sân tại DFL-/Franz Beckenbauer Supercup
  4. Ra sân tại UEFA Super Cup
  5. Số lần ra sân tại FIFA Club World Cup

Quốc tế

[sửa | sửa mã nguồn]
Tính đến 29 tháng 6 năm 2026[80]
Số lần ra sân và bàn thắng theo đội tuyển quốc gia và năm
Đội tuyển quốc giaNămTrậnBàn
Đức 201410
201500
201620
201796
201870
201965
202041
2021122
202270
202390
202400
2025101
202660
Tổng cộng7315
Tính đến 20 tháng 3 năm 2025. Bàn thắng của Đức được liệt kê đầu tiên, cột điểm số cho biết tỉ số sau mỗi bàn thắng của Goretzka.[80]
Danh sách bàn thắng quốc tế của Leon Goretzka
No. Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
119 tháng 6 năm 2017Sân vận động Olympic Fisht, Sochi, NgaBERJAYA Úc3–13–2Cúp Liên đoàn các châu lục 2017
229 tháng 6 năm 2017BERJAYA México1–04–1
32–0
44 tháng 9 năm 2017Mercedes-Benz Arena, Stuttgart, ĐứcBERJAYA Na Uy5–06–0Vòng loại FIFA World Cup 2018
58 tháng 10 năm 2017Sân vận động Fritz Walter, Kaiserslautern, ĐứcBERJAYA Azerbaijan1–05–1
64–1
720 tháng 3 năm 2019Volkswagen Arena, Wolfsburg, ĐứcBERJAYA Serbia1–11–1Giao hữu
811 tháng 6 năm 2019Opel Arena, Mainz, ĐứcBERJAYA Estonia3–08–0Vòng loại UEFA Euro 2020
916 tháng 11 năm 2019Borussia-Park, Mönchengladbach, ĐứcBERJAYA Belarus2–04–0
1019 tháng 11 năm 2019Waldstadion, Frankfurt, ĐứcBERJAYA Bắc Ireland2–16–1
115–1
1210 tháng 10 năm 2020Sân vận động thể thao quốc gia Olimpiyskiy, Kyiv, UkrainaBERJAYA Ukraina2–02–1UEFA Nations League 2020–21
1325 tháng 3 năm 2021MSV-Arena, Duisburg, ĐứcBERJAYA Iceland1–03–0Vòng loại FIFA World Cup 2022
1423 tháng 6 năm 2021Allianz Arena, Munich, ĐứcBERJAYA Hungary2–22–2UEFA Euro 2020
1520 tháng 3 năm 2025San Siro, Milan, ÝBERJAYA Ý2–12–1UEFA Nations League 2024–25

Danh hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]

Bayern Munich[81]

U-17 Đức

U-23 Đức

Đức

Cá nhân

  • Huy chuơng Vàng Fritz Walter U-17: 2012[95]
  • Chiếc giày Bạc Cúp Liên đoàn các châu lục: 2017[96]
  • Quả bóng Đồng Cúp Liên đoàn các châu lục: 2017[96]
  • Đội hình tiêu biểu của mùa giải UEFA Champions League: 2019–20[97]
  • Đội hình tiêu biểu của mùa giải Bundesliga: 2017–18,[98] 2020–21[99]
  • Đội hình tiêu biểu của mùa giải Bundesliga bởi kicker: 2020–21[100]
  • Đội hình tiêu biểu của mùa giải Bundesliga bởi VDV: 2020–21[101]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. "FIFA World Cup Russia 2018: List of Players: Germany" (PDF). FIFA. ngày 15 tháng 7 năm 2018. tr. 12. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2019.
  2. "Leon Goretzka: Overview". ESPN. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2020.
  3. "Leon Goretzka". FC Bayern Munich. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2020.
  4. 1 2 "Leon Goretzka" (bằng tiếng Đức). kicker. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2012.
  5. "Fritz-Walter-Medaille für Goretzka, Ginter, Rüdiger und Lotzen" [Fritz-Walter-Medal for Goretzka, Ginter, Rüdiger and Lotzen] (bằng tiếng Đức). Hiệp hội bóng đá Đức. ngày 30 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2012.
  6. "Trio infernale: Iashvili, Goretzka und Freier" [Trio infernale: Iashvili, Goretzka and Freier]. kicker. ngày 4 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2013.
  7. "Sammer meets with Goretzka". ESPN. ngày 2 tháng 11 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2018.
  8. "Schalke und Bochum einigen sich im Fall Goretzka" [Schalke and Bochum reach an agreement in the Goretzka case]. Spiegel Online (bằng tiếng Đức). ngày 30 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2018.
  9. 1 2 "Leon Goretzka". Kicker (bằng tiếng Đức). kicker. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2017.
  10. "Goretzka: "Neuanfang" in der Nationalelf" [Goretzka: "New start" in the national team]. sport.de (bằng tiếng Đức). ngày 14 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2020.
  11. 1 2 3 "Leon Goretzka » Club matches". World Football. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2017.
  12. 1 2 3 "Schalke's Leon Goretzka comes of age in Russia". bundesliga.com. ngày 2 tháng 7 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2018.
  13. 1 2 "Leon Goretzka". Kicker (bằng tiếng Đức). kicker. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2017.
  14. 1 2 "Leon Goretzka". Kicker (bằng tiếng Đức). kicker. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2018.
  15. 1 2 "Leon Goretzka". Kicker (bằng tiếng Đức). kicker. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2018.
  16. "Tönnies: "Du solltest das Trikot von Schalke nicht mehr tragen"" [Tönnies: "You should no longer wear the Schalke jersey"]. SportBild (bằng tiếng Đức). ngày 21 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2018.
  17. "FC Bayern sign Germany international Leon Goretzka". fcbayern.com. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2018.
  18. 1 2 "FCB gewinnt Supercup – Lewandowski macht den Unterschied" [FCB wins Supercup – Lewandowski makes the difference]. Kicker (bằng tiếng Đức). kicker. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2018.
  19. Pearson, Matt (ngày 12 tháng 8 năm 2018). "Robert Lewandowski hat trick leads Bayern Munich to Super Cup win". Deutsche Welle. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2018.
  20. Lovell, Mark (tháng 9 năm 2018). "Leon Goretzka marks first Bayern Munich Bundesliga start with a goal in win over Stuttgart". ESPN. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2019.
  21. "Leon Goretzka double helps Bayern Munich down Hoffenheim". Bundesliga. ngày 19 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2019.
  22. Connaughton, Gary (ngày 15 tháng 2 năm 2019). "Bayern Munich score OG 13 SECONDS into Bundesliga game". Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 2 năm 2019. This has to be one of the fastest own goals of all time. A similar effort is certainly not springing to mind.
  23. "Robert Lewandowski hits brace as Bayern Munich beat RB Leipzig in DFB Cup final to seal the double". bundesliga.com. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2019.
  24. "Goretzka's maiden goal sets Bayern on their way". fcbayern.com. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2019.
  25. "Bayern 2–1 Sevilla". UEFA. ngày 24 tháng 9 năm 2020.
  26. "Goretzka has little chance of playing second leg in Paris". besoccer.com. tháng 4 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2026.
  27. 1 2 "Bayern Munich crowned Bundesliga champions". Bundesliga. ngày 8 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2021.
  28. "Leon Goretzka extends contract". FC Bayern Munich. ngày 16 tháng 9 năm 2021.
  29. "FC Bayern in der EinzelkritikDoppelpacker Goretzka überragt, Sané in brillanter Form" [FC Bayern player ratings: Brace-scorer Goretzka stands out, Sané in brilliant form]. focus.de (bằng tiếng Đức). ngày 12 tháng 10 năm 2022.
  30. "Bayern Munich edge Union Berlin to close gap at the top to four points". Bundesliga. ngày 25 tháng 1 năm 2024.
  31. "Leon Goretzka to leave Bayern in summer". FC Bayern Munich. ngày 30 tháng 1 năm 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2026.
  32. "Goretzka erzielt Rekordtor: 29 Spiele, 102 Tore - Bayern knacken Bundesliga-Torrekord" [Goretzka scores record goal: 29 games, 102 goals - Bayern break Bundesliga scoring record]. sportschau.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2026.
  33. "FC St. Pauli - FC Bayern München (Spielbericht)". FC Bayern. ngày 11 tháng 4 năm 2026. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2026.
  34. "Goretzka zur DFB-U16". VfL Bochum 1848 (bằng tiếng Đức). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2026.
  35. "U16-Junioren schlagen Nordirland" [U16 juniors beat Northern Ireland]. RP Online. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2026.
  36. "Goretzka führt deutsche U17 als Kapitän zum Sieg" (bằng tiếng Đức). VfL Bochum. ngày 24 tháng 8 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2014.
  37. "Goretzka führt deutsche U17 als Kapitän zum Sieg" [Goretzka leads German U17 to victory as captain]. VfL Bochum 1848 (bằng tiếng Đức). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2026.
  38. 1 2 "UEFA European Under-17 Championship Final Round 2012 – Slovenia 2012" (PDF). UEFA.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2026.
  39. Online, FOCUS. "U21-Junioren bleiben torlos bei gutem Goretzka-Debüt" [U21 juniors remain scoreless in good Goretzka debut]. FOCUS Online (bằng tiếng Đức). Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2026.
  40. Pender, Kieran (ngày 19 tháng 6 năm 2017). "Lu88" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2026.
  41. "Młodzi zrozumieli, iż w Niemczech można być dumnym z tego, że jest się Polakiem" [Young people have understood that in Germany one can be proud of being Polish]. weszlo.com (bằng tiếng Ba Lan). ngày 9 tháng 2 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2026.
  42. "Leon Goretzka: I'm very grateful". FC Schalke 04. ngày 25 tháng 7 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  43. "Leon Goretzka travels back from the Olympics". FC Schalke 04. ngày 11 tháng 8 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2016.
  44. Kops, Calle (ngày 8 tháng 5 năm 2014). "Löw überrascht beim vorläufigen WM-Kader" [Löw surprises with the preliminary World Cup squad]. dw.de (bằng tiếng Đức). Deutsche Welle. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014.
  45. Hallam, Mark (ngày 12 tháng 5 năm 2014). "Germany vs Poland: More useful to Löw than you might think". Deutsche Welle. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014.
  46. "Löw streicht vier und holt Kramer" [Löw eliminates four and gets Kramer] (bằng tiếng Đức). Spox.com. ngày 14 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014.
  47. Myson, Chris (ngày 17 tháng 5 năm 2017). "Kroos, Muller and Ozil among stars left out of Germany's Confederations Cup squad". Goal. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2017.
  48. Pender, Kieran (ngày 19 tháng 6 năm 2017). "Socceroos face uphill task after being edged out by Germany". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2026.
  49. "Awards list dominated by victorious Germans". FIFA.com. ngày 2 tháng 7 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2018.
  50. "Germany announce final World Cup squad, with Manuel Neuer, without Leroy Sané". Deutsche Welle. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2018.
  51. "World Cup 2018: Germany exit at group stage after shock South Korea loss". Deutsche Welle. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2018.
  52. "EM-Kader offiziell: Löw beruft Müller, Hummels und Volland" [Official European Championship squad: Löw calls up Müller, Hummels and Volland]. Kicker (bằng tiếng Đức). ngày 19 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2021.
  53. Namboothiri, Adithya (ngày 24 tháng 6 năm 2021). "Euro 2020: Germany 2-2 Hungary Post-Match Analysis". FootballExpress.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2021.
  54. "Flick beruft Moukoko, Füllkrug und Götze in WM-Kader" [Flick names Moukoko, Füllkrug and Götze to World Cup squad] (bằng tiếng Đức). Hiệp hội bóng đá Đức. ngày 10 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2022.
  55. "So reagierten Hummels & Goretzka auf die Nicht-Nominierung". Sky Sport. ngày 16 tháng 5 năm 2024.
  56. "Nagelsmann reveals 26-man squad for the FIFA World Cup". Hiệp hội bóng đá Đức. ngày 21 tháng 5 năm 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2026.
  57. Baystead, Simon (ngày 20 tháng 9 năm 2013). "Leon Goretzka". liberofootball.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014.
  58. 1 2 3 Woods, Adam (ngày 14 tháng 3 năm 2014). "Everything you need to know about... Leon Goretzka". fourfourtwo.com. FourFourTwo. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014.
  59. "Schalke verpflichtet Bochums Supertalent Goretzka" [Schalke signed Bochum Super Talent Goretzka]. welt.de (bằng tiếng Đức). Die Welt. ngày 1 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014.
  60. 1 2 3 "Leon Goretzka – Germany's Next Big Talent". Nasty Tackle. ngày 21 tháng 9 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2017.
  61. Koch, Maximilian (ngày 1 tháng 5 năm 2013). "Ein Bochumer Junge für die große Fußballwelt" [A Bochum boy for the big football world]. faz.net (bằng tiếng Đức). Frankfurter Allgemeine Zeitung. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014.
  62. "Schalke sensation Leon Goretzka: so much more than "the next Michael Ballack"". Bundesliga.com. ngày 1 tháng 1 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2018.
  63. "Leon Goretzka: Profile". worldfootball.net. HEIM:SPIEL. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2020.
  64. "RevierSport: Goretzka hat die Reifeprüfung abgelegt" [Reviersport: Goretzka took the matriculation examination]. reviersport.de (bằng tiếng Đức). Reviersport. ngày 3 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014.
  65. Webb, Alex; Rothwell, Steve (ngày 1 tháng 5 năm 2012). "GM-Peugeot Pact Makes Opel Workers Rivals for Survival at Two Plants: Cars". bloomberg.com. Bloomberg L.P. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014.
  66. Raphael Honigstein, "Leon Goretzka exclusive: 'I was able to swim against the current'", The New York Times, ISSN 0362-4331, truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2024
  67. "AltBOWeltladen : Evangelischer Kirchenkreis Bochum". www.kirchenkreis-bochum.de (bằng tiếng Đức). Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2022.
  68. ""We Kick Corona": Goretzka and Kimmich donate 1 million euros". dfb.de. ngày 20 tháng 3 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2020.
  69. "Goretzka will Prominenz nutzen: Kein Fußball den Faschisten" [Goretzka wants to use prominence: No football for fascists]. web.de (bằng tiếng German). ngày 28 tháng 5 năm 2021.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  70. "Leon Goretzka speaks out against Germany's far right". Bavarian Football Works (bằng tiếng English). ngày 20 tháng 12 năm 2020.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  71. "Livin CG Immobilien GmbH, Herne, Germany". www.northdata.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2022.
  72. "Leon Goretzka". Kicker (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2019.
  73. "Sancho glänzt in doppelter Rolle: BVB gewinnt Supercup". Kicker (bằng tiếng Đức). ngày 3 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2019.
  74. "Leon Goretzka". Kicker (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2021.
  75. "Leon Goretzka". Kicker (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2022.
  76. "Leon Goretzka". Kicker (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2023.
  77. "Leon Goretzka". Kicker (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2024.
  78. "Leon Goretzka". Kicker (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2025.
  79. "Leon Goretzka". Kicker (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2026.
  80. 1 2 "Leon Goretzka". National Football Teams. Benjamin Strack-Zimmerman. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2014.
  81. "L. Goretzka". Soccerway. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2020.
  82. "Mia san Meister!". twitter.com. ngày 27 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2020.
  83. "Dortmund draw gifts Bayern title on thrilling final day". BBC Sport. ngày 27 tháng 5 năm 2023. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2023.
  84. "FC Bayern München deutscher Meister 2025: Leverkusen patzt gegen Freiburg in Bundesliga". FAZ.NET (bằng tiếng Đức). ngày 4 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2025.
  85. "Bayern dreht nach Rückstand auf und kürt sich vorzeitig zum Deutschen Meister". kicker.de (bằng tiếng Đức). ngày 19 tháng 4 năm 2026. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2026.
  86. "Hattrick Kane: Bayern gewinnt nach sechs Jahren Wartezeit den DFB-Pokal". kicker.de (bằng tiếng Đức). ngày 23 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2026.
  87. "Robert Lewandowski double as Bayern Munich overcome Borussia Dortmund to win the Supercup". Bundesliga Official. Bundesliga. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2021.
  88. "Bayern München ist der erste Gewinner des Franz-Beckenbauer-Supercups" [Bayern Munich is the first winner of the Franz Beckenbauer Supercup]. Spiegel (bằng tiếng Đức). ngày 16 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2025.
  89. "Bayern win the Champions League". ESPN. ngày 23 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2020.
  90. "Joker Javi Martinez köpft Bayern zum Supercup". Kicker (bằng tiếng Đức). ngày 24 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2020.
  91. "Pavard completes sextuple for dominant Bayern". FIFA.com. ngày 11 tháng 2 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2021.
  92. "Final: Germany 1–1 Netherlands: Line-ups". UEFA. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2020.
  93. "Rio 2016 Football Results Book: Medallists". Olympic World Library. ngày 20 tháng 8 năm 2016. tr. 7. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2020.
  94. "Match report: Chile – Germany". FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2019.
  95. "Fritz-Walter-Medaille 2012: Die Gewinner: Das sind die besten Talente Deutschlands" [Fritz Walter Medal 2012: Winners: These are the best talents Germany]. spox.com (bằng tiếng Đức). ngày 30 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014.
  96. 1 2 "Awards list dominated by victorious Germans". FIFA.com. ngày 2 tháng 7 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2020.
  97. "UEFA Champions League Squad of the Season". UEFA. ngày 28 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2020.
  98. "CONFIRMED 2017/18 Bundesliga FIFA 18 Team of the Season!". Bundesliga. ngày 30 tháng 5 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2018.
  99. "The 2020/21 Bundesliga Team of the Season!". Bundesliga. ngày 15 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2021.
  100. "Sechs Klubs dabei: Die kicker-Elf der Saison (2020/21)" (bằng tiếng Đức). kicker. ngày 1 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2021.
  101. "Robert Lewandowski zum VDV-Spieler der Saison gewählt" [Robert Lewandowski voted VDV Player of the Season] (bằng tiếng Đức). VDV. ngày 2 tháng 6 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2021.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]