close
Bước tới nội dung

M113

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
M113
BERJAYA
Một chiếc M113-OSV của Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Bộ binh số 4 thuộc Lục quân Hoa Kỳ, thực hiện nhiệm vụ cảnh giới trong khi tiến hành các hoạt động trinh sát trong cuộc tập trận Allied Spirit tại Trung tâm Sẵn sàng Đa quốc gia Hợp nhất ở Hohenfels, Bavaria vào năm 2015.
LoạiXe thiết giáp chở quân
Nơi chế tạoHoa Kỳ
Lược sử hoạt động
Phục vụ1960–nay
Sử dụng bởiXem mục Các bên vận hành
Trận
Lược sử chế tạo
Nhà sản xuấtFMC Corporation
United Defense
BAE Systems
Giai đoạn sản xuất1960–2007
Số lượng chế tạo≈80.000 (tất cả các biến thể)[3]
Các biến thểNhiều biến thể, xem bài viết
Thông số
Khối lượng12,3 tấn (13,6 tấn Mỹ; 12,1 tấn Anh)
Chiều dài4,863 mét (15 ft 11,5 in)
Chiều rộng2,686 mét (8 ft 9,7 in)
Chiều cao2,5 mét (8 ft 2 in)
Kíp chiến đấu2
Số người chứa được11–15 hành khách

Phương tiện bọc thépHợp kim nhôm 5083 28–44 milimét (1,1–1,7 in)[4]
Vũ khí
chính
Súng máy M2 Browning
Vũ khí
phụ
Thay đổi (Xem bài viết)
Động cơDetroit Diesel 6V53T, động cơ diesel 6 xi-lanh
275 hp (205 kW)
Công suất/trọng lượng22,36 hp/tấn
Hệ thống treoThanh xoắn, 5 bánh tì
Tầm hoạt động480 km (300 mi)
Tốc độ67,6 km/h (42,0 mph), 5,8 km/h (3,6 mph) khi bơi

M113là một loại xe thiết giáp chở quân (APC) bánh xích toàn phần được phát triển và sản xuất bởi FMC Corporation. M113 đã được gửi đến Lục quân Hoa Kỳ tại châu Âu vào năm 1961 để thay thế các xe APC M59 của bộ binh cơ giới. M113 được sử dụng lần đầu tiên trong chiến đấu vào tháng 4 năm 1962 sau khi Hoa Kỳ cung cấp cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa (ARVN) các loại vũ khí hạng nặng như M113, thuộc chương trình của Bộ chỉ huy Viện trợ Quân sự Mỹ tại Việt Nam (MACV). Về sau, M113 trở thành xe thiết giáp được Lục quân Hoa Kỳ sử dụng rộng rãi nhất trong Chiến tranh Việt Nam và được dùng để húc đổ những bụi rậm dày đặc giữa rừng sâu nhằm tấn công và tràn ngập các vị trí của đối phương. Nó được các lực lượng đồng minh biết đến rộng rãi với tên gọi "APC" hoặc "ACAV" (xe thiết giáp tấn công của Kỵ binh thiết giáp).[5]

M113 là phương tiện chiến đấu có thân bằng nhôm đầu tiên được đưa vào sản xuất hàng loạt. Nhẹ hơn nhiều so với các phương tiện tương tự trước đó, lớp giáp nhôm của nó được thiết kế đủ dày để bảo vệ kíp lái và hành khách trước hỏa lực vũ khí bộ binh cỡ nhỏ, nhưng lại đủ nhẹ để phương tiện có thể vận chuyển bằng đường hàng không và có khả năng lội nước ở mức độ vừa phải.

Trong Lục quân Hoa Kỳ, dòng M113 từ lâu đã bị thay thế trong vai trò phương tiện chiến đấu tuyến đầu bởi các xe M2 Bradley và M3, nhưng một số lượng lớn vẫn tiếp tục được sử dụng trong các vai trò hỗ trợ như xe cứu thương bọc thép, xe chở súng cối, xe công binh và xe chỉ huy. Các lữ đoàn chiến đấu thiết giáp hạng nặng của Lục quân Hoa Kỳ được trang bị khoảng 6.000 chiếc M113 và 6.724 chiếc Bradley.

Tính linh hoạt của M113 đã tạo ra nhiều phương án cải tiến đa dạng vẫn đang tồn tại trên khắp thế giới và trong biên chế quân đội Mỹ. Các biến thể này hiện chiếm khoảng một nửa số lượng xe thiết giáp của Lục quân Hoa Kỳ. Ước tính có hơn 80.000 phương tiện thuộc họ M113 đã được sản xuất và sử dụng bởi hơn 50 quốc gia trên toàn thế giới, khiến nó trở thành một trong những loại xe chiến đấu bọc thép được sử dụng rộng rãi nhất mọi thời đại.[6]

Việc sản xuất M113 đã chấm dứt vào năm 2007. Quân đội đã khởi động chương trình Xe thiết giáp đa năng (Armored Multi-Purpose Vehicle - AMPV) để tìm kiếm phương án thay thế. Vào năm 2014, Lục quân Hoa Kỳ đã chọn đề xuất của BAE Systems về một biến thể không có tháp pháo của Xe chiến đấu Bradley để thay thế cho hơn 2.800 chiếc M113 đang phục vụ.[7] Hàng nghìn chiếc M113 vẫn tiếp tục thực hiện nghĩa vụ chiến đấu trong Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF), mặc dù tính đến năm 2014, IDF đã tìm cách thay thế dần nhiều chiếc trong số 6.000 chiếc M113 của mình bằng các xe Namer,[8] và bằng Eitan AFV vào năm 2020.[9]

Phát triển

[sửa | sửa mã nguồn]
BERJAYA
Đề xuất mẫu T113 của FMC
BERJAYA
Đề xuất mẫu T117 của FMC

M113 được phát triển bởi tập đoàn FMC Corporation, đơn vị từng sản xuất các dòng xe thiết giáp chở quân M75M59 trước đó. M113 mang những nét tương đồng rất lớn với cả hai mẫu xe tiền nhiệm này. M75 quá nặng và đắt đỏ để có thể sử dụng hiệu quả, vì trọng lượng của nó ngăn cản khả năng lội nước và vận chuyển bằng đường hàng không. Mẫu M59 rẻ hơn và được giảm trọng lượng đáng kể đã giải quyết được cả hai vấn đề này, nhưng đổi lại lớp giáp lại quá mỏng, đồng thời hoạt động không đáng tin cậy do hệ thống động lực sử dụng động cơ kép.

Quân đội lúc bấy giờ đang tìm kiếm một phương tiện kết hợp được những tính năng tốt nhất của cả hai thiết kế, tạo thành một "họ xe thiết giáp đa năng đường không" (AAM-PVF)[10] gồm các xe chiến đấu bọc thép đa dụng, vượt mọi địa hình. FMC đã hợp tác với công ty Kaiser Aluminum vào cuối thập niên 1950 để phát triển một loại giáp nhôm phù hợp, vừa cung cấp khả năng bảo vệ của M75, vừa giữ được trọng lượng nhẹ và tính cơ động của M59.

FMC đã phản hồi bằng hai đề xuất; hai phiên bản của mẫu T113 bằng nhôm – một bản có giáp dày hơn và một bản giáp mỏng hơn – cùng với mẫu T117 có thiết kế tương tự nhưng cấu tạo chủ yếu bằng thép. Phiên bản T113 có giáp dày hơn – trên thực tế chính là nguyên mẫu của M113 – đã được lựa chọn vì nó có trọng lượng nhẹ hơn đối thủ bằng thép trong khi vẫn cung cấp cùng một mức độ bảo vệ. Một thiết kế T113 cải tiến mang tên T113E1 đã được Lục quân Hoa Kỳ chấp thuận vào năm 1960 dưới định danh "M113". Một nguyên mẫu chạy bằng động cơ diesel, T113E2, đã được đưa vào sản xuất năm 1964 dưới định danh "M113A1", và nhanh chóng thay thế phiên bản M113 chạy bằng xăng.[11] FMC đã chuyển giao dây chuyền sản xuất M113 vào năm 1994 cho United Defense, công ty con về quốc phòng mới thành lập của mình. United Defense sau đó đã được BAE Systems mua lại vào năm 2005.

BERJAYA
Các binh sĩ Lục quân Hoa Kỳ rời khỏi xe M113 trong một cuộc diễn tập huấn luyện bộ binh cơ giới vào tháng 9 năm 1985

M113 được phát triển nhằm cung cấp một phương tiện bánh xích hạng nhẹ có khả năng sống sót cao và đáng tin cậy, có thể vận chuyển bằng đường hàng không và thả dù bằng các máy bay vận tải C-130C-141. Ý tưởng ban đầu là phương tiện này sẽ chỉ được sử dụng thuần túy làm phương tiện vận tải để đưa binh lính lên phía trước dưới sự bảo vệ của lớp giáp, sau đó binh lính sẽ xuống xe để chiến đấu, và chiếc M113 sẽ rút lui về phía sau. Đi vào hoạt động trong Lục quân Hoa Kỳ từ năm 1960, M113 yêu cầu kíp lái gồm hai người (một lái xe và một trưởng xe) và chở được từ 11 đến 15 binh sĩ bên trong. Vũ khí chính của nó là một khẩu súng máy M2 Browning cỡ nòng .50 (12,7 mm) do trưởng xe vận hành. Lô hàng 32 chiếc M113 đầu tiên đã đến miền Nam Việt Nam vào ngày 30 tháng 3 năm 1962 và được chuyển giao cho hai đại đội bộ binh cơ giới của Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH), mỗi đại đội được trang bị 15 chiếc APC này.[12]

Hai đơn vị cơ giới này đã được triển khai trên chiến trường lần đầu tiên vào ngày 11 tháng 6 năm 1962.[13] Trong Trận Ấp Bắc vào tháng 1 năm 1963, ít nhất 14 xạ thủ trên các xe M113 đã tử trận do vị trí ngồi của họ bị lộ hoàn toàn trước hỏa lực đối phương, đòi hỏi phải có những sửa đổi để cải thiện khả năng sống sót của kíp lái.[14] Các tấm chắn tự chế làm từ kim loại trục vớt từ vỏ của những con tàu bị đắm sớm được lắp lên các xe chở quân, mang lại khả năng bảo vệ tốt hơn; tuy nhiên, người ta nhận thấy chất liệu này vẫn có thể bị xuyên thủng bởi hỏa lực vũ khí bộ binh cỡ nhỏ, vì vậy các tấm chắn tiếp theo đã được chế tạo từ các xe thiết giáp phế liệu.[15] Đơn vị Quân khí 80 của QLVNCH tại miền Nam Việt Nam đã phát triển tiếp ý tưởng tấm chắn này và bắt đầu chế tạo các tấm chắn súng cấp phát đại trà cho M113.[15] Những tấm chắn này đã trở thành tiền thân của biến thể xe thiết giáp tấn công của kỵ binh (ACAV) tiêu chuẩn và được cấp phát cho tất cả các đơn vị cơ giới QLVNCH trong đầu thập niên 1960.

Theo Ralph Zumbro, phía QLVNCH đã sửa đổi các xe M113 để hoạt động như những "xe tăng hạng nhẹ lội nước" chứ không phải làm nhiệm vụ taxi chiến trường như các nhà thiết kế Mỹ dự định.[16] Thay vì một chiếc xe thiết giáp chở quân, QLVNCH đã sử dụng lực lượng bộ binh mang theo như những "binh sĩ xuống xe bổ sung" trong "một kíp xe tăng quá khổ".[16] Những bộ trang bị "ACAV" này cuối cùng đã được áp dụng cho các xe M113 của Lục quân Hoa Kỳ khi các lực lượng chính quy của quân đội nước này đến vào năm 1965. Các phương tiện này tiếp tục hoạt động trong vai trò của một xe tăng hạng nhẹ và xe trinh sát tại chiến trường, chứ không phải theo chức năng thiết kế ban đầu.

BERJAYA
Nội thất bên trong một chiếc M113 tại Bảo tàng Hiệp hội Thiết giáp Mỹ ở Danville, Virginia, tháng 7 năm 2006

Lục quân Hoa Kỳ ngay sau đó đã cho ra đời phiên bản ACAV của riêng họ. Bộ trang bị ACAV gần như được tiêu chuẩn hóa này bao gồm các tấm chắn và một tháp pháo tròn cho súng máy M2 cỡ nòng .50 ở vị trí của trưởng xe (TC), hai súng máy M60 có tấm chắn ở các vị trí phía sau bên trái và bên phải, cùng lớp "giáp đáy" — giáp thép được bắt vít từ phía trước đáy kéo dài từ 1/2 đến 2/3 chặng đường về phía sau đáy của xe M113. Hai xạ thủ súng máy phía sau có thể bắn vũ khí của họ khi đứng bên trong cửa sập khoang hàng hình chữ nhật mở trên nóc. Điều này đã biến M113 thành một phương tiện chiến đấu, nhưng chiếc xe vẫn chịu điểm yếu từ cấu hình giáp mỏng, do chưa bao giờ được thiết kế cho vai trò như vậy. Canada cũng đã áp dụng các bộ trang bị ACAV khi sử dụng xe M113A2 trong các hoạt động gìn giữ hòa bình ở vùng Balkans vào những năm 1990.

Nhằm nâng cao năng lực chiến đấu của binh lính trên xe, một số thử nghiệm đã được tiến hành vào những năm 1960 thuộc dự án MICV-65. Các thử nghiệm này cố gắng phát triển một dòng xe chiến đấu bộ binh thực thụ thay vì một chiếc xe thiết giáp chở quân. Công ty Pacific Car and Foundry đã đưa vào thử nghiệm mẫu XM701 bọc giáp thép, nhưng mẫu này tỏ ra quá chậm và quá nặng để có thể cơ động đường không, ngay cả khi dùng máy bay vận tải Lockheed C-141 Starlifter. FMC đã đưa vào thử nghiệm mẫu XM734, về cơ bản là một chiếc M113 ACAV nhưng binh lính ngồi quay mặt ra ngoài trên một băng ghế trung tâm, thay vì ngồi quay mặt vào nhau như trên chiếc M113 nguyên bản.[cần dẫn nguồn] Bốn lỗ châu mai và các khối kính quan sát đã được bổ sung ở mỗi bên để cho phép binh lính đang ngồi có thể bắn ngay cả khi đang ẩn nấp dưới lớp giáp. Mặc dù cả XM701 và XM734 đều không được đánh giá là xứng đáng để đưa vào sản xuất hàng loạt, FMC vẫn tiếp tục phát triển phiên bản của họ thành xe chiến đấu bộ binh tiên tiến XM765 (AIFV). Mẫu AIFV đã được bán cho một số bên vận hành thứ ba vào những năm 1970, bao gồm Hà Lan, PhilippinesBỉ.

Các cải tiến

[sửa | sửa mã nguồn]
BERJAYA
Một chiếc M113 của Không quân Hoa Kỳ tại Căn cứ không quân Liên hợp Balad, Iraq, vào tháng 11 năm 2008.

Các phiên bản sửa đổi từ bộ trang bị ACAV thời Chiến tranh Việt Nam đã được triển khai[khi nào?] sang Iraq để trang bị cho các xe M113 tiêu chuẩn vẫn còn hoạt động. Các tấm chắn súng tròn cỡ nòng .50 đã được sửa đổi, trong khi các vị trí đặt súng phía sau bên mạn trái và mạn phải đã được loại bỏ để phục vụ tại khu vực này. Một số phương tiện cải tiến này đã được sử dụng cho các nhiệm vụ hộ tống đoàn xe.[cần dẫn nguồn]

M113 có lớp giáp mỏng, nhưng có thể tăng cường bằng các tấm thép bổ sung để cải thiện khả năng chống đạn. Giáp phản ứnggiáp lồng có thể được thêm vào để bảo vệ chống lại súng phóng lựu chống tăng (RPG). Hệ thống xích cao su đúc liền hiện đang được quân đội Canada và các lực lượng khác sử dụng nhằm cho phép vận hành bí mật, ít gây hư hại cho đường trải nhựa, tốc độ cao hơn, ít bảo trì hơn, tiếp cận được những địa hình mà xe bánh lốp không thể hoạt động, đồng thời giảm độ rung và lực cản lăn.[17]

Phần lớn trong số 13.000 xe M113 vẫn còn phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ đã được nâng cấp lên biến thể A3. Hạm đội M113 hiện tại của Lục quân Hoa Kỳ bao gồm sự kết hợp giữa các biến thể M113A2, A3 và các phiên bản phái sinh khác được trang bị gói nâng cấp RISE (Reliability Improvements for Selected Equipment - Cải tiến độ tin cậy cho các thiết bị được chọn) mới nhất. Gói RISE tiêu chuẩn bao gồm hệ thống động lực được nâng cấp (động cơ tăng áp và hộp số mới), hệ thống điều khiển của lái xe được cải tiến đáng kể (phanh trợ lực mới và điều khiển lái thông thường), các bình nhiên liệu bên ngoài, và máy phát điện 200 ampe với bốn bình bộ ắc quy. Những cải tiến bổ sung trên bản A3 bao gồm việc tích hợp các lớp lót chống văng mảnh giáp và chuẩn bị sẵn các vị trí để lắp giáp ngoài.

BERJAYA
Một chiếc M113A3/BMP-2 được theo sau bởi một chiếc M113A3/MBT tại NTC Fort Irwin.

Trung tâm Huấn luyện Quốc gia (NTC) của Lục quân Hoa Kỳ tại Fort Irwin, California đã bắt đầu thay thế hạm đội xe M551 cũ kỹ vốn được hoán cải ngoại hình để mô phỏng các phương tiện chiến đấu do Nga sản xuất bằng xe M113 vào năm 1995. Trung tâm Huấn luyện Điều động Chiến đấu gần Hohenfels, Đức cũng nhanh chóng làm theo, áp dụng M113 cho các xe M60A3 của họ. Những chiếc M113 này, giống như những chiếc M551 mà chúng thay thế, cũng được sửa đổi để trông giống như các xe tăng và APC của đối phương, chẳng hạn như T-80BMP-2. Bên cạnh việc rẻ hơn và dễ bảo trì hơn đáng kể, một trong những lợi thế của M113 là tiểu đội bộ binh giờ đây có thể ngồi bên trong chiếc BMP mô phỏng thay vì ngồi trên một chiếc xe tải đi kèm với một chiếc xe tăng giả dạng BMP, như thường thấy đối với các xe M551.[18][19]

BERJAYA
Vao tháng 3 năm 2007, một nhóm binh sĩ Lục quân Hoa Kỳ ngồi trên cửa đổ bộ phía sau của một chiếc M113 tại Căn cứ Hỏa lực Kalsu, Iraq.

Biệt danh

[sửa | sửa mã nguồn]

M113 đã nhận được nhiều biệt danh khác nhau qua các năm. Quân lực Việt Nam Cộng hòa (ARVN) gọi nó là "con rồng xanh".[20] Binh sĩ Hoa Kỳ có xu hướng gọi M113 một cách đơn giản là "113" (đọc là "one-one-three") hoặc "track" (xe xích).[21] Lực lượng Phòng vệ Israel sử dụng M113 dưới nhiều biến thể khác nhau, tất cả đều được thiết kế tại Israel, và đã đặt tên chính thức cho từng loại, từ phiên bản cơ sở "Bardelas" (nghĩa đen là Báo săn) cho đến các biến thể "Nagmash" (từ viết tắt tiếng Do Thái tương đương với "APC"), "Nagman" và "Kasman" phục vụ cho tác chiến đô thị, cho đến bản "Zelda" và "Zelda 2" được trang bị các bộ giáp phản ứng nổ (ERA).[22]

Quân đội Úc gọi các xe M113A1 của mình là "bucket" (những chiếc xô), "bush taxi" (xe taxi bụi rậm)[23] và gọi các xe M113A1 cải tiến lắp tháp pháo 76 mm là "beast" (quái thú). Quân đội Đức có nhiều biệt danh khác nhau tùy thuộc vào vị trí và binh chủng, bao gồm "elephant shoe" (giày voi),[24] "Tank Wedge" (khối chêm bánh xe tăng)[25] và "bathtub" (bồn tắm). Trong Quân đội Tây Ban Nha, nó được gọi là "TOA", từ viết tắt của Transporte Oruga Acorazado, trong tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là Xe bọc thép chở quân bánh xích.[cần dẫn nguồn] Trong Quân đội Ukraine, nó được gọi là "Emka" (chữ M).

Thiết kế

[sửa | sửa mã nguồn]
BERJAYA
Một chiếc M113A1 của Úc với tháp pháo T50 do Cadillac Gage chế tạo, được trang bị cụm súng máy nòng kép gồm M1919 BrowningM2 Browning QCB.

Xe thiết giáp chở quân M113 cấu hình cơ bản có thể được tích hợp nhiều hệ thống vũ khí khác nhau. Cấu hình vũ khí phổ biến nhất là một khẩu súng máy M2 cỡ nòng .50. Tuy nhiên, bệ gắn này cũng có thể lắp một súng phóng lựu tự động Mk 19 40 mm. Một số loại vũ khí chống tăng có thể được lắp đặt trên biến thể tiêu chuẩn: Lục quân Hoa Kỳ đã phát triển các bộ thiết bị cho phép lắp đặt các hệ thống tên lửa chống tăng M47 DragonBGM-71 TOW.

Đối với mẫu M47, hệ thống này được tích hợp trực tiếp vào bệ súng máy hiện có mà không cần phải tháo súng máy ra. Điều này cho phép trưởng xe sử dụng được cả hai loại vũ khí. Một loạt các loại tháp pháo và bệ gắn cố định có sẵn để lắp các loại pháo bắn đạn nổ mạnh có cỡ nòng từ 20 mm đến 105 mm lên dòng xe M113, giúp chúng thực hiện chức năng như pháo tự hành tấn công và hỏa lực hỗ trợ; trong khi trong nhiều trường hợp, không gian bên trong vẫn đủ chỗ để chở bộ binh xuống xe hoặc lính trinh sát kỵ binh.

Giáp bảo vệ

[sửa | sửa mã nguồn]

M113 được chế tạo bằng hợp kim nhôm 5083 tiêu chuẩn máy bay. Hợp kim nhôm nhẹ hơn thép nhưng đòi hỏi độ dày gấp khoảng ba lần để đạt được mức độ bảo vệ chống đạn tương đương, nghĩa là lớp giáp của M113 chỉ được thiết kế để chống lại đạn 7,62 mm và mảnh văng của đạn pháo.[26][27] Tất cả các biến thể của M113 đều có khả năng lắp đặt thêm giáp bổ sung chống mìn. M113A3 đã được nâng cấp thêm các lớp lót chống văng mảnh bên trong và các bình nhiên liệu bọc giáp. Để so sánh, một chiếc APC hiện đại như Stryker có khả năng bảo vệ toàn diện chống đạn xuyên giáp 7,62 mm, cộng thêm khả năng bảo vệ 14,5 mm ở mặt trước, các mặt bên, mặt sau và khả năng chống mìn chống người.[28]

Tính cơ động

[sửa | sửa mã nguồn]
BERJAYA
Một chiếc M113 của Brazil trong một lần vượt sông

Trọng lượng nhẹ của xe cho phép sử dụng một động cơ tương đối nhỏ để cung cấp động lực, đó là động cơ diesel hai thì Detroit 6V53 V6 có dung tích 318 inch khối (5.210 cc)[a] kết hợp với hộp số tự động ba cấp Allison TX-100-1. Điều này cho phép phương tiện chở một tải trọng lớn di chuyển việt dã và được vận chuyển bằng cả máy bay cánh cố định và máy bay cánh quay (trực thăng). Các xe M113 thuộc loạt sản xuất ban đầu có thể bơi mà không cần triển khai các bạt phao chắn sóng, chỉ sử dụng một tấm chắn sóng gắn phía trước; chúng được đẩy đi trong nước nhờ hệ thống xích của mình.

Lịch sử hoạt động

[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam

[sửa | sửa mã nguồn]
BERJAYA
Một chiến dịch hiệp đồng binh chủng tại Việt Nam. Các xe M113 mở đường qua bụi rậm dày đặc trong khi bộ binh theo sau.
BERJAYA
Trung đội Súng cối 4,2 inch của Đại đội D/Thiết giáp 16, Lữ đoàn Nhảy dù 173, đang thực hiện nhiệm vụ hỏa lực trong Chiến dịch Waco tại Việt Nam

Chiến tranh Việt Nam là cơ hội thực chiến đầu tiên của bộ binh cơ giới, một loại hình bộ binh mới về mặt kỹ thuật có nguồn gốc từ bộ binh thiết giáp thời Chiến tranh Thế giới thứ hai, giờ đây sử dụng xe thiết giáp chở quân M113. Ngoài ra, các chi đoàn kỵ binh thiết giáp tại Việt Nam phần lớn bao gồm các xe M113, sau khi thay thế mẫu M114 vốn được dự định cho nhiều vai trò khác nhau, và các tiểu đoàn thiết giáp cũng có M113 trong các đại đội chỉ huy của mình, chẳng hạn như phân đội bảo dưỡng, phân đội quân y, phân đội cứu hộ xe, phân đội súng cối và phân đội thám báo (trinh sát). Các đơn vị bộ binh cơ giới của Lục quân Hoa Kỳ tại Việt Nam được trang bị đầy đủ xe M113 APC/ACAV, cấu trúc gồm một đại đội chỉ huy và ba đại đội tuyến đầu, với quân số biên chế được phép thông thường vào khoảng 900 người. Mười tiểu đoàn bộ binh cơ giới Hoa Kỳ đã được triển khai đến Việt Nam từ năm 1965 cho đến khi rút đi vào năm 1972.[29][b]

Đại đội D, Thiết giáp 16

[sửa | sửa mã nguồn]

Đại đội D, Thiết giáp 16, Lữ đoàn Nhảy dù 173, là đơn vị thiết giáp đầu tiên của Lục quân Hoa Kỳ được triển khai đến Việt Nam. Ban đầu đơn vị bao gồm ba trung đội M113 và một trung đội pháo chống tăng tự hành 90 mm M56 Scorpion (SPAT). Đây là đại đội thiết giáp độc lập duy nhất trong lịch sử Lục quân Hoa Kỳ. Khi đại đội đến Việt Nam, một trung đội tuyến đầu thứ tư đã được bổ sung; đơn vị này được trang bị xe mang súng cối M106 4,2 inch (mẫu M113 cải tiến).[30]

Trung đội súng cối thường phối hợp hoạt động với các đơn vị bộ binh của Lữ đoàn để cung cấp hỏa lực hỗ trợ gián tiếp. Đôi khi trung đội cũng được triển khai như một đơn vị bộ binh đi bộ. Trung đội SPAT còn lại đã được trang bị lại bằng xe M113 vào cuối năm 1966 và trung đội súng cối bị giải thể vào đầu năm 1967. Từ đầu năm 1967, đại đội D/16 có ba trung đội tuyến đầu được trang bị M113 và sau đó là phiên bản chạy bằng động cơ diesel của nó, M113A1. Đơn vị cũng được tiêu chuẩn hóa vào cuối năm 1968 với ba khẩu súng máy trên mỗi xe, gồm một khẩu M2 cỡ nòng .50 và hai khẩu súng máy M60 gắn ở mỗi bên hông.[30]

BERJAYA
Các xe ACAV của Chi đoàn 3, Kỵ binh thiết giáp 11 triển khai đội hình xương cá trong Chiến dịch Cedar Falls.

Sử dụng chung trong chiến đấu

[sửa | sửa mã nguồn]

Các xe M113 đóng vai trò quan trọng trong việc tiến hành các hoạt động trinh sát vũ tran, các chiến dịch tìm và diệt, và các cuộc tấn công quy mô lớn xâm nhập qua biên giới như cuộc tấn công của Mỹ vào Campuchia ngày 1 tháng 5 năm 1970 và sau đó là sang Lào (Chiến dịch Lam Sơn 719) năm 1971, tất cả đều sử dụng M113 làm lực lượng chủ lực chính để cơ động các đạo quân mặt đất. Khi hoạt động cùng các đơn vị kỵ binh và thiết giáp, xe M113 thường phối hợp tác chiến với các xe tăng M48 PattonM551 Sheridan của Mỹ. Trong Chiến tranh Việt Nam, các xe tải vũ trang của Lục quân Hoa Kỳ cùng với các xe thiết giáp V-100 đã thực hiện nhiệm vụ hộ tống các đoàn xe vận tải quân sự.

Không quân Hoa Kỳ (USAF) đã sử dụng các xe M113 và M113A1 ACAV trong các phi đoàn cảnh sát bảo vệ của mình, nhằm cung cấp hỏa lực hỗ trợ phòng thủ mặt đất cho các căn cứ không quân tại Việt Nam. Ngoài ra, các xe M113 cũng được viện trợ cho ARVN. Một đơn vị ARVN nổi bật được trang bị xe APC M113 là |Thiết đoàn 3 Kỵ binh, đã được trao tặng Bằng tuyên dương Đơn vị Tổng thống.[31][32] Các xe M113 bổ sung cũng được cung cấp cho Lực lượng Vũ trang Quốc gia Khmer của Campuchia, được trang bị một tháp pháo cho súng máy và một khẩu pháo không giật M40 gắn trên nóc xe.

Quân đội Úc cũng sử dụng xe M113 tại Việt Nam. Sau khi những trải nghiệm ban đầu cho thấy trưởng xe quá dễ bị tổn thương trước hỏa lực đối phương, người Úc đã thử nghiệm nhiều loại tấm chắn súng và tháp pháo khác nhau, cuối cùng đã tiêu chuẩn hóa bằng tháp pháo Cadillac-Gage T-50 trang bị hai khẩu súng máy Browning .30 cal, hoặc một cặp kết hợp gồm một khẩu .30 và một khẩu .50. Các loại tháp pháo khác cũng như nhiều loại tấm chắn súng khác nhau đã được thử nghiệm, với thiết kế chủ đạo tương tự như tấm chắn súng được sử dụng trên phiên bản M113 ACAV của Mỹ.

Bên cạnh đó, người Úc còn vận hành một biến thể M113 lắp tháp pháo của xe thiết giáp Saladin, mang pháo 76 mm làm phương tiện hỗ trợ hỏa lực, viết tắt là FSV, để hỗ trợ hỏa lực cho bộ binh. Biến thể này hiện cũng đã bị loại biên.

Sau thời kỳ Việt Nam, tất cả các xe chở quân M113 của Úc đều được lắp tháp pháo T50. Mẫu FSV cuối cùng đã bị loại bỏ dần và thay thế bằng một phiên bản hiện đại hóa gọi là "MRV" (xe trinh sát hạng trung). Mẫu MRV sở hữu tháp pháo của xe Scorpion với pháo 76 mm, hệ thống điều khiển hỏa lực cải tiến và thiết bị nhìn đêm thụ động.

Các trung đoàn sử dụng M113 bao gồm các đơn vị thuộc Lực lượng Quân sự Công dân (CMF) trước đây như Trung đoàn Kỵ binh nhẹ 4/19 Thân vương xứ Wales (trinh sát thiết giáp) và các đơn vị chính quy như Trung đoàn Kỵ binh 2 (trinh sát thiết giáp) và Trung đoàn Kỵ binh 3/4 (Trung đoàn APC). Một Đại đội Trinh sát Thiết giáp bao gồm Xe Alpha – Xe Charlie (M113 LRV), Xe Bravo – Xe Delta (M113 MRV), Xe Echo (M113 APC) cùng Phân đội Đột kích (bộ binh thiết giáp) về sau gọi là Thám báo...

Phương tiện trinh sát hạng nhẹ (LRV) – Súng máy cỡ nòng .50/.30 cal đặt trong tháp pháo Cadillac-Gage T-50
Xe thiết giáp chở quân (APC) – Súng máy cỡ nòng .30/.30 cal đặt trong tháp pháo Cadillac-Gage T-50
Phương tiện trinh sát hạng trung (MRV) – Tháp pháo Saladin (về sau là tháp pháo Scorpion) – trước đây gọi là phương tiện hỗ trợ hỏa lực

Phía ARVN cũng sử dụng các xe thiết giáp chở quân M113. Từ tháng 11 năm 1967 đến tháng 3 năm 1970, các lực lượng Mỹ và ARVN đã tổn thất không dưới 1.342 chiếc M113 chỉ riêng do mìn mặt đất (không tính các phương tiện bị phá hủy bởi pháo không giật hoặc RPG).[33] Vào năm 1975, 1.381 chiếc M113 của ARVN đã bị phá hủy và thu giữ. Các tổn thất trong những năm khác không được xác định.[34] Tổng cộng, Mỹ, ARVN và Úc đã tổn thất khoảng 8.000 chiếc M113 trong Chiến tranh Việt Nam.

Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF) là bên vận hành lớn thứ hai sử dụng M113 sau Hoa Kỳ, với hơn 6.000 phương tiện đang hoạt động.

Vào năm 1967, một số chiếc M113 của Jordan đã bị thu giữ tại Bờ Tây trong Chiến tranh Sáu ngày và được sáp nhập vào Quân đội Israel. Đến năm 1970, Israel bắt đầu tiếp nhận phiên bản M113A1 để thay thế các xe bán xích (half-track) đã lỗi thời. Các xe M113 của IDF được vũ trang bằng súng máy M2 HB và hai súng máy MAG 7,62 mm đặt ở hai bên cửa khoang kíp lái phía trên.

BERJAYA
Một biến thể M113 của Israel tại Liban, năm 1984

M113 đã tham gia vào Chiến tranh Yom Kippur vào tháng 10 năm 1973, khi đó IDF được trang bị 448 chiếc M113 tham chiến trên các mặt trận Sinai và Golan. Chúng tỏ ra không phù hợp cho việc chiến đấu trực diện do khả năng bảo vệ của lớp giáp quá kém. Trong Trận Buq'atta, phần lớn Đại đội Trinh sát số 7 đã bị xóa sổ khi cố gắng sử dụng các xe M113 để tấn công lực lượng đặc nhiệm Syria.

Chúng đã được IDF sử dụng trong Xung đột Nam Liban 1978. Trong cuộc Chiến tranh Liban 1982, chúng đã tham gia vào các trận đánh ác liệt. Các trận phục kích bằng súng RPG của PLO đã gây ra thương vong lớn do lớp giáp nhôm của M113 có xu hướng bắt lửa sau khi bị vũ khí chống tăng bắn trúng. Các binh sĩ bộ binh Israel được chở bằng xe M113 đã rút ra bài học là phải nhanh chóng xuống xe và chiến đấu đi bộ khi bị tấn công.[35]

Đến thời điểm diễn ra cuộc Vây hãm Beirut, xe M113 chỉ được dùng để vận chuyển nhu yếu phẩm lên tiền tuyến, luôn dừng lại cách chiến tuyến đối phương ít nhất 100 mét. Các xe M113 sau đó được cả IDF và Quân đội miền Nam Liban sử dụng trong cuộc xung đột Nam Liban.

IDF đã sử dụng xe M113 trong thời kỳ Intifada thứ nhấtIntifada thứ hai. Vào tháng 5 năm 2004, hai chiếc M113 chở đầy quân của IDF đã bị phá hủy bởi các thiết bị nổ cải tiến (IED) tại Dải Gaza, khiến 11 binh sĩ tử trận, tức toàn bộ những người có mặt bên trong xe trong cả hai vụ việc. Sự kiện này được biết đến ở Israel với tên gọi "thảm họa APC". Điểm yếu dễ bị tổn thương của xe thiết giáp chở quân M113 trước các loại IED và súng RPG đã thúc đẩy IDF sau đó bắt tay vào phát triển dòng APC Namer.[36] M113 tiếp tục được sử dụng trong Chiến tranh Liban 2006Chiến dịch Đúc Chì.

BERJAYA
Đoàn xe M113 của Israel tiếp cận Gaza trong Chiến dịch Phao cứu sinh vào năm 2014.

Vào năm 2014, trong đợt tấn công trên bộ đầu tiên của IDF vào Gaza thuộc Chiến dịch Phao cứu sinh, một quả đạn RPG-29 của Hamas đã phá hủy một chiếc M113 chở đầy quân tại Gaza trong Trận Shuja'iyya, khiến toàn bộ bảy binh sĩ thuộc Lữ đoàn Golani bên trong xe tử trận. Hệ quả là IDF đã phải đối mặt với những lời kêu gọi từ công chúng Israel về việc chế tạo thêm nhiều xe APC Namer trong thập kỷ tiếp theo và cắt giảm dần số lượng xe M113 sử dụng trong các hoạt động chiến đấu tương lai của mình.[37] Một nhóm gồm 30 binh sĩ dự bị của Israel sau đó đã thông báo với các chỉ huy của họ rằng họ sẽ từ chối tiến vào Dải Gaza trên các xe M113.[38]

Các xe M113 đã được triển khai tại Palestine và Liban trong Chiến tranh Gaza. Vào ngày 15 tháng 6 năm 2024, tám binh sĩ đã tử trận, có khả năng do vụ nổ của các khối thuốc nổ mang ở bên ngoài xe M113 của họ.[39] Vào ngày 24 tháng 6 năm 2024, Lữ đoàn Al-Qassam đã công bố đoạn phim ghi lại cảnh lực lượng của họ tấn công một chiếc M113 bằng tên lửa ATGM HJ-8 của Trung Quốc, bắn trúng mục tiêu và gây ra một vụ hỏa hoạn bên ngoài hệ thống phá mìn CARPET mang theo.[40]

Lực lượng Phòng vệ Israel vẫn vận hành số lượng lớn xe M113, duy trì một hạm đội gồm 6.000 phương tiện loại này. Trong nhiều trường hợp kể từ khi được đưa vào sử dụng vào cuối thập niên 1960, các xe M113 của IDF đã chứng minh sự yếu thế dễ bị tổn thương trước các loại tên lửa chống tăng hiện đại, IED và súng RPG, dẫn đến cái chết của nhiều binh sĩ Israel ngồi bên trong xe. Mặc dù vậy, IDF vẫn chưa thể thay thế hoàn toàn việc sử dụng chúng trong các hoạt động chiến đấu, do những hạn chế về ngân sách trong việc trang bị cho các trung đoàn bộ binh cơ giới quy mô lớn của mình.[41][42]

Israel đang chế tạo thử nghiệm mẫu Eitan (tiếng Do Thái nghĩa là kiên định), một loại xe chiến đấu bọc thép tám bánh để thay thế các xe M113 của họ. Được thiết kế để phục vụ cùng với mẫu xe xích Namer, Eitan được lên kế hoạch có chi phí rẻ hơn và nhẹ hơn, ở mức 35 tấn, tích hợp một hệ thống bảo vệ chủ động và một tháp pháo. Chúng được kỳ vọng sẽ bắt đầu thay thế M113 từ năm 2020.[41][42] Tuy nhiên, do tốc độ sản xuất chậm của các loại APC thay thế, IDF dự kiến sẽ vẫn phải phụ thuộc vào M113 trong suốt những năm 2020.[42] IDF cũng đã tăng cường sản xuất các xe APC Namer để thay thế M113.

Vào tháng 5 năm 2025, Bộ Quốc phòng Israel đã công bố mời thầu bán 5.000 chiếc M-113 ở tình trạng "nguyên trạng" (as is).[43]

Sử dụng làm VBIED

[sửa | sửa mã nguồn]

Một số chiếc APC Zelda bị vô hiệu hóa tại Nabatieh, Liban và Gaza đã hé lộ việc IDF sử dụng chúng làm VBIED (thiết bị nổ cải tiến đặt trên xe), trong đó các phương tiện được nạp đầy chất nổ, được kéo đến mục tiêu và kích nổ.[44][45] Một số lượng không xác định xe M113 đã được hoán cải thành Phương tiện mặt đất không người lái (UGV) và được quan sát thấy hoạt động như các xe bom tự sát VBIED tại Rafah.[46][47] Vào tháng 11 năm 2024, hãng IAI đã trình chiếu các đoạn video về các đơn vị M113 không người lái phối hợp hoạt động với xe ủi đất D9 không người lái tại nơi có vẻ là Gaza, như một ví dụ về hệ thống hiệp đồng tác chiến mới của hãng dành cho các đơn vị robot.[48]

Lực lượng hành pháp

[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Hoa Kỳ, các xe M113 đã được chấp thuận trang bị bởi nhiều cơ quan hành pháp. Một chiếc M113 thuộc Văn phòng Cảnh sát trưởng Hạt Midland đã được sử dụng trong cuộc đột kích năm 2008 vào khu phức hợp của Giáo hội Cơ đốc Phục lâm Ngày sau của các Thánh hữu Cơ bản.[49]

Các xe M113 của Thủy quân lục chiến Brazil đã được sử dụng trong các chiến dịch phối hợp với Tiểu đoàn Cảnh sát Chiến dịch Đặc biệt (BOPE) trong cuộc đột kích năm 2010 vào khu ổ chuột Complexo do Alemão.[cần dẫn nguồn]

BERJAYA
Hai chiếc M113 trong biên chế của Thủy quân lục chiến Ukraine.

Các xe M113 đã được Hoa Kỳ và một số quốc gia phương Tây gửi đến Ukraine trong thời gian diễn ra cuộc Chiến tranh Nga-Ukraina. Chúng hiện đang được các lực lượng Ukraine sử dụng cùng với các phương tiện chiến đấu khác được viện trợ cho Ukraine.[50][51]

Một số chiếc M113 thu giữ được tại Bakhmut đã được các nhà thầu của tập đoàn Wagner sử dụng để vận chuyển nhân sự.[52][53]

Kế hoạch thay thế của Lục quân Hoa Kỳ

[sửa | sửa mã nguồn]

Lục quân Hoa Kỳ đã ngừng mua xe M113 vào năm 2007, với 6.000 phương tiện còn lại trong kho lưu trữ.[54]

M113 sẽ được thay thế trong biên chế Lục quân Hoa Kỳ bằng chương trình Xe thiết giáp đa năng (AMPV).[55] Có 2.897 chiếc AMPV, được cấu hình cho năm vai trò nhiệm vụ, được thiết lập để thay thế M113 ở cấp lữ đoàn trở xuống trong các lữ đoàn chiến đấu thiết giáp. Tuy nhiên, chương trình AMPV không phát triển một phương tiện để thay thế M113 ở các cấp bậc hỗ trợ phía trên cấp lữ đoàn; loại phương tiện này sẽ có những yêu cầu khác biệt.[56]

Hãng BAE Systems đã đề xuất một biến thể không có tháp pháo của Xe chiến đấu Bradley để làm mẫu AMPV. Vào tháng 12 năm 2014, Lục quân Hoa Kỳ đã chọn đề xuất của BAE, đề xuất duy nhất mà họ nhận được,[57] để thay thế cho hơn 2.800 chiếc M113 đang hoạt động.[7]

Tính đến năm 2013, năm biến thể của AMPV đã được lập kế hoạch: M1283 Đa dụng (dự kiến 522 chiếc), M1284 Xe tải thương chuyển thương (dự kiến 790 chiếc), M1285 Xe điều trị quân y (dự kiến 216 chiếc) và M1286 Chỉ huy nhiệm vụ (dự kiến 993 chiếc).[58]

Các xe AMPV sẽ được sản xuất với tốc độ khoảng 180 phương tiện mỗi năm, đủ để trang bị cho 1,3 lữ đoàn thiết giáp. Với 12 lữ đoàn cần hiện đại hóa, M113 theo kế hoạch sẽ không bị thay thế hoàn toàn trong các lữ đoàn thiết giáp cho đến cuối những năm 2020. Với các nghiên cứu đang tiếp diễn về việc sử dụng phương tiện nào để thay thế M113 trong các đơn vị tuyến sau, M113 ít có khả năng bị loại biên hoàn toàn khỏi biên chế Lục quân Hoa Kỳ cho đến sau năm 2030, tức là hơn 70 năm sau khi đi vào hoạt động.[59]

Các biến thể

[sửa | sửa mã nguồn]
BERJAYA
Tranh vẽ xe thiết giáp chở quân (APC) của David E. Graves, Chương trình Nghệ sĩ Chiến đấu Việt Nam. Bản quyền thuộc Bảo tàng Quốc gia Lục quân Hoa Kỳ.
M113

Phiên bản gốc, trang bị động cơ xăng V8 Chrysler 75M công suất 209 hp (156 kW).[60]

M113A1

Bắt đầu từ năm 1964, động cơ xăng được thay thế bằng động cơ diesel 6V-53 Detroit Diesel công suất 215 hp (160 kW) nhằm tận dụng khả năng tiết kiệm nhiên liệu tốt hơn và giảm nguy cơ cháy nổ của động cơ diesel.[60][61] Hậu tố A1 được sử dụng trên tất cả các biến thể để chỉ dòng chạy động cơ diesel, ví dụ như M106A1 là xe chở súng cối M106 được trang bị động cơ diesel.

M113A2

Vào năm 1979, các gói nâng cấp tiếp theo được giới thiệu. Hệ thống làm mát động cơ được cải tiến bằng cách hoán đổi vị trí của quạt và bộ tản nhiệt. Các thanh xoắn có độ bền cao hơn giúp tăng khoảng sáng gầm xe, và các ống giảm chấn giúp giảm tác động khi va chạm với mặt đất. Trọng lượng của M113A2 tăng lên 11.740 kilôgam (25.880 lb). Do trọng lượng tăng thêm ảnh hưởng đến lượng nổi khi lội nước, dòng xe này không còn yêu cầu bắt buộc phải có khả năng lội nước. Cụm ống phóng lựu đạn khói bốn nòng cũng được bổ sung thêm. Hậu tố A2 được sử dụng trên tất cả các biến thể để biểu thị việc nâng cấp lên tiêu chuẩn A2.[62]

M113A3

Vào năm 1987, các cải tiến tiếp theo nhằm "nâng cao khả năng sống sót (trên chiến trường)" đã được áp dụng. Gói này bao gồm một cần lái dạng ách thay cho hai cần lái độc lập hai bên, một bàn đạp phanh, động cơ mạnh hơn (dòng động cơ diesel tăng áp 6V-53T Detroit Diesel),[63] và các lớp lót chống văng mảnh bên trong để tăng cường bảo vệ. Các bình chứa nhiên liệu bọc giáp được lắp bên ngoài ở cả hai bên cửa đổ bộ phía sau, giúp giải phóng 0,45 mét khối (16 ft khối) không gian nội thất. Hậu tố A3 được sử dụng trên tất cả các biến thể để biểu thị việc nâng cấp lên tiêu chuẩn A3.

M113[64] M113A1[65] M113A2[66] M113A3[67]
Chiều dài tổng thể 191,5 in (4,9 m) 208,5 in (5,3 m) có bình nhiên liệu ngoài, 191,5 in (4,9 m) không có 208,5 in (5,3 m)
Chiều rộng tổng thể 105,75 in (2,7 m)
Chiều cao tính đến súng máy 98,25 in (2,5 m) 99,25 in (2,5 m)
Khoảng sáng gầm xe 16,1 in (40,9 cm) 17,1 in (43,4 cm)
Tốc độ tối đa 40 mph (64 km/h)
Khả năng lội nước Có thể bơi Giới hạn ở mức 40 in (101,6 cm)
Độ dốc tối đa 60%
Hào rộng tối đa 5,5 ft (1,7 m)
Tường cao tối đa 24 in (0,6 m)
Tầm hoạt động 200 mi (320 km) 300 mi (480 km)
Công suất 215 hp (160 kW) tại 4.000 vòng/phút 212 hp (158 kW) tại 2.800 vòng/phút 275 hp (205 kW) tại 2.800 vòng/phút
Tỷ số công suất trên trọng lượng 18,8 hp/ST (15,5 kW/t) 17,6 hp/ST (14,5 kW/t) 17,0 hp/ST (14,0 kW/t) (không có bình nhiên liệu ngoài) 20,2 hp/ST (16,6 kW/t) (không có giáp bổ sung)
Mô-men xoắn 332 lb⋅ft (450 N⋅m) tại 2.800 vòng/phút 492 lb⋅ft (670 N⋅m) tại 1.300 vòng/phút 627 lb⋅ft (850 N⋅m) tại 1.600 vòng/phút
Trọng lượng khi nạp đầy tải chiến đấu 22.900 lb (10.390 kg) 24.080 lb (10.920 kg) 25.000 lb (11.340 kg) 27.200 lb (12.340 kg) (không có giáp bổ sung)
Áp lực lên mặt đất 7,3 psi (50 kPa) 7,6 psi (52 kPa) 7,9 psi (54 kPa) 7,9 psi (54 kPa)
Vũ khí chính Súng máy M2 Browning

Các biến thể

[sửa | sửa mã nguồn]
BERJAYA
Các binh sĩ Mỹ khai hỏa hệ thống súng cối M120 từ một chiếc M113 tại Căn cứ Taji, Iraq, năm 2009.

Một số lượng khổng lồ các phương tiện dựa trên bộ phận chuyển động của M113 đã được chế tạo, từ các xe APC cho đến bệ phóng tên lửa đạn đạo chiến thuật. M113 đã trở thành một trong những dòng xe bọc thép phổ biến nhất trong nửa sau thế kỷ 20, và tiếp tục phục vụ trong quân đội các nước trên khắp thế giới cho đến thế kỷ 21.

Hệ thống M58 Wolf

Phương tiện tạo màn khói bọc thép.

Xe bọc thép chở súng cối M106
BERJAYA
Xe chở súng cối M106 và kíp nổ trang bị đồ bảo hộ chống vũ khí hủy diệt hàng loạt (NBC) trong cuộc diễn tập Reforger '85 tại Đức.

Một xe chở súng cối được vũ trang bằng một khẩu súng cối M30 106,7 mm (4,2 inch) lắp trên một bàn xoay ở khoang chứa quân phía sau. Trên biến thể này, cửa sập đơn phía trên khoang chứa quân sau được thay thế bằng cửa sập tròn cấu trúc ba phần. Súng cối có thể khai hỏa trực tiếp từ trên xe hoặc hạ xuống mặt đất để bắn. Hiện tại, xe chở súng cối của Lục quân Hoa Kỳ là mẫu M106 được nâng cấp lên tiêu chuẩn A3 và trang bị súng cối M121 120 mm, một biến thể của dòng súng cối M120.

Xe bọc thép chở súng cối M1064

Được trang bị một khẩu súng cối M121 120 mm, một biến thể của súng cối M120.

M125

Xe chở súng cối, về cơ bản là một chiếc M106 nhưng được vũ trang bằng một khẩu súng cối M29 81 mm.

BERJAYA
Một chiếc M150 của Israel trang bị hệ thống tên lửa chống tăng có điều khiển TOW cải tiến (I-TOW).
Xe thiết giáp phun lửa M132

Biến thể được trang bị một tháp pháo mang súng phun lửa và một súng máy cỡ nòng .50. Những phương tiện này hiện không còn được Lục quân Hoa Kỳ sử dụng. Các xe được nâng cấp lên tiêu chuẩn A1 được biết đến với định danh "M132A1".

M150

Biến thể chống tăng được trang bị một bệ phóng tên lửa chống tăng có điều khiển (ATGM) TOW.

M163 VADS

Biến thể tự hành của hệ thống phòng không tầm ngắn M167 VADS, lắp một khẩu pháo tự động M61 Vulcan cùng máy đo xa radar và 2.100 viên đạn trên khung gầm M113 hoán cải (xe cơ sở M741).

M48 Chaparral

Biến thể phòng không được trang bị bệ phóng mang bốn quả tên lửa MIM-72A/M48 Chaparral.

BERJAYA
Một chiếc M577 đang được tiến hành bảo dưỡng
M548

Xe vận tải hàng hóa không bọc giáp được trang bị một thùng chở hàng phía sau.

Xe bọc thép chỉ huy M577

Biến thể chỉ huy, phần nóc phía trên khoang chứa quân sau được thiết kế cao hơn. Phương tiện này cũng mang theo các hệ thống đài vô tuyến bổ sung và một máy phát điện. Một biến thể của mẫu này là xe hệ thống sở chỉ huy tích hợp tiêu chuẩn M1068, được trang bị hệ thống điều khiển và chỉ huy tự động mới nhất của Lục quân Hoa Kỳ.

BERJAYA
Một phương tiện sửa chữa kỹ thuật M113 thuộc Quân đội Lithuania.
M579

Một dòng xe sửa chữa kỹ thuật được trang bị một cần cẩu. Phương tiện này không được đưa vào biên chế Lục quân Hoa Kỳ.

M806

Xe sửa chữa và cứu hộ được trang bị một tời nội bộ và hai neo đất gắn ở phía sau thân xe.

M901 ITV (Phương tiện cải tiến tích hợp TOW)

Được trang bị một bệ phóng mang hai quả tên lửa TOW.

BERJAYA
Các xe OSV cấu hình M113A3/BMP-2 tại Kho quân giới Anniston.
M113A3, Phương tiện thay thế Lực lượng đối phương (OSV) - (NTC)

Một biến thể của M113 được lắp tháp pháo Bradley sửa đổi như một phần của gói hoán cải ngoại hình (vismod) phục vụ huấn luyện. Biến thể này có tích hợp thiết bị Hệ thống tương tác laser đa hướng MILES, một hệ thống MGSS/TWGSS và các khối giáp phản ứng nổ (ERA) mô hình trơ. Các phiên bản giả dạng bao gồm xe BMP-2 của Nga và xe tăng chiến đấu chủ lực T-80.[18][19]

M113 "C&R" (Chỉ huy và Trinh sát)
BERJAYA
Xe trinh sát thiết giáp M113 C&R/Lynx

Một phiên bản thấp hơn và ngắn hơn của dòng M113 được phát triển cho Hà Lan. Nó được sử dụng cho các nhiệm vụ trinh sát trong các tiểu đoàn kỵ binh và các đại đội công binh thiết giáp. Xe có bốn bánh chịu nặng ở mỗi bên hông. Động cơ được chuyển về phía sau phương tiện mặc dù các bánh chủ động vẫn duy trì ở phía trước. Vũ khí trang bị là một khẩu pháo tự động 25 mm đặt trong một tháp pháo điều khiển từ xa. Kíp lái gồm trưởng xe, lái xe và pháo thủ. Nó cũng được Quân đội Canada sử dụng dưới tên gọi Xe trinh sát Lynx.

AIFV
BERJAYA
Một chiếc AIFV của Hà Lan, mẫu YPR-765, trang bị pháo Oerlikon KBA 25 mm.

Một bước phát triển từ xe APC M113A1, được nâng cấp với một tháp pháo kín và các lỗ châu mai.

Các phiên bản khác

Vào năm 1994, một phiên bản thân dài của M113 đã được nhà sản xuất giới thiệu, còn được gọi là Phương tiện chiến thuật hạng nhẹ di động (MTVL). Thân xe của nó được kéo dài thêm 34 inch và trang bị thêm một bánh chịu nặng (sáu bánh mỗi bên hông) để duy trì trọng lượng khô và tải trọng tăng thêm. Phương tiện này được phát triển như một "mẫu trình diễn công cụ sản xuất" với nguồn vốn tư nhân từ United Defense. Tập đoàn United Defense LP đã đề xuất mẫu MTVL cho chương trình Xe thiết giáp tạm thời vào năm 2000. Mặc dù Lục quân Hoa Kỳ không mua nó, mẫu xe này đã được các quốc gia khác mua lại và hiện được sao chép bởi Pakistan, Thổ Nhĩ Kỳ và Ai Cập tại các nhà máy địa phương của họ. Một số quốc gia như Canada và Úc cũng tiến hành kéo dài thân các xe M113 sẵn có của họ.[68]

Quân đội có kế hoạch chuyển đổi bốn chiếc M113 thành các phương tiện mặt đất không người lái (UGV) vào cuối năm 2019 để phục vụ trong các vai trò thử nghiệm nhằm kiểm tra các khái niệm chiến đấu và di chuyển không người lái trước khi triển khai các xe chiến đấu robot chuyên dụng, dự kiến vào năm 2028.[69][70]

Các bản sao của M113

Một số quốc gia đã mua các xe M113 và sau đó sao chép thiết kế, tiến hành sản xuất các mẫu nhân bản hoặc các mẫu cải tiến phát triển thêm (vượt tiêu chuẩn M113A3) tại các nhà máy nội địa của họ. Pakistan sản xuất một loại xe thiết giáp chở quân với tên gọi Talha, có nhiều bộ phận cơ khí và phụ tùng ô tô chung với M113. Thổ Nhĩ Kỳ sản xuất dòng ACV-300 dựa trên mẫu AIFV. Ai Cập sản xuất nhiều biến thể của M113 bao gồm cả Xe chiến đấu bộ binh Ai Cập (EIFV), mang đặc tính kết hợp giữa nền tảng M113A3 và tháp pháo hai người vận hành ổn định, đầy đủ chức năng của xe M2 Bradley. Iran cũng đang tiến hành sản xuất các phiên bản M113 của riêng họ.

Các bên vận hành

[sửa | sửa mã nguồn]

Các bên vận hành hiện tại

[sửa | sửa mã nguồn]
BERJAYA
M113 của Lục quân Argentina trang bị pháo 20 mm, năm 2015.
BERJAYA
M113A2 của Lực lượng Vũ trang Lithuania trang bị súng máy cỡ nòng .50.
BERJAYA
Một chiếc M113 của ARVN không gắn bộ ACAV trong Chiến tranh Việt Nam.
BERJAYA
Bộ binh Cơ giới Bồ Đào Nha cùng xe M113 vượt qua một dòng nước.
BERJAYA
Một đoàn xe thiết giáp chở quân M113 và các phương tiện quân sự khác của Lực lượng Lục quân Hoàng gia Ả Rập Xê Út dọc theo một kênh đào đã được rà phá mìn trong Chiến dịch Bão táp Sa mạc thuộc Chiến tranh Vùng Vịnh.
BERJAYA
Xe Schützenpanzer 63 (M113A1) của Thụy Sĩ vào năm 1964.
  • BERJAYA Afghanistan: 173 chiếc M113A2, tính đến năm 2020[71]:250
  • BERJAYA Argentina: (Lục quân Argentina)[72] 114 chiếc M113A2 (trang bị pháo 20 mm), 70 chiếc M113A1-ACAV, 204 chiếc M113A2[73]:393
  • BERJAYA Úc (Quân đội Úc): 340 chiếc M113AS4 và 91 chiếc M113AS3 được nâng cấp để tiếp tục phục vụ từ gói 840 chiếc M113A1 ban đầu[74]
  • BERJAYA Bahrain: 300 chiếc M113A2, 12 chiếc M113A2 (mang pháo 120 mm)[73]:343
  • BERJAYA Bénin (Lục quân Benin): 22 chiếc[73]:454
  • BERJAYA Bolivia: (Lục quân Bolivia): hơn 50 chiếc[73]:398
  • BERJAYA Bosna và Hercegovina: 20 chiếc M113A2[73]:90
  • BERJAYA Brasil: Lục quân Brazil: 198 chiếc M113A1; 386 chiếc M113BR; 12 chiếc M113A2; 64 chiếc M577A2; Thủy quân lục chiến Brazil: 30 chiếc[73]:400–401 Đã tiếp nhận các lô hàng gồm cả xe M113 và M113A2 mới lẫn xe cũ đã qua sử dụng. Phiên bản M113 được nâng cấp nội địa bằng động cơ diesel Scania.[75]
  • BERJAYA Campuchia (Lục quân Hoàng gia Campuchia)[73]:254
  • BERJAYA Canada: (Lục quân Canada) 140 chiếc M113A3/M577A3 (Xe chỉ huy)[76]:31
  • BERJAYA Chile (Lục quân Chile): 306 chiếc M113A1 và M113A2[73]:404 Đã tiếp nhận các lô hàng gồm cả xe M113A1 và M113A2 mới lẫn cũ đã qua sử dụng.[75]
  • BERJAYA Colombia: 28 chiếc M113A1, 26 chiếc M113A2[73]:407
  • BERJAYA Síp: 418 chiếc[73]:96
  • BERJAYA Đan Mạch: 65 chiếc thuộc biến thể M113G4 DK và 170 chiếc thuộc biến thể M113G3 DK[77]
  • BERJAYA Ecuador: 20 chiếc[73]:413
  • BERJAYA Ai Cập: 2.498 chiếc M113A2 và M-106A2, 60 chiếc M-125, 33 chiếc M-981 FISTV, và 131 chiếc M577A1 (Xe chỉ huy)[75]
  • BERJAYA Đức: 37 chiếc[73]:110
  • BERJAYA Hy Lạp: 1.852 chiếc M113A1 và M113A2, 187 chiếc M577 (Xe chỉ huy)[73]:112 chủ yếu là hàng đã qua sử dụng[75]
  • BERJAYA Guatemala 10 chiếc M113[73]:416
  • BERJAYA Iran (Lục quân Iran): 200 chiếc[73]:341
  • BERJAYA Iraq (Lục quân Iraq): Iraq đã mua 1.026 chiếc M113A2 đã qua sử dụng vào tháng 6 năm 2013.[78] Đồng thời họ cũng tịch thu một số lượng nhỏ xe M113 trong thời gian diễn ra Chiến tranh Iran–Iraq.[79][80]
  • BERJAYA Indonesia: 143 chiếc M113A1-B, 1 chiếc M113A1-B-GN, 5 chiếc M113 Arisgator (phiên bản công binh chiến đấu)[73]:272, 274
  • BERJAYA Israel (Lực lượng Phòng vệ Israel): 500 chiếc M113A2[73]:348
  • BERJAYA Jordan: 370 chiếc M113A1 và M113A2, 269 chiếc M577A2 (Xe chỉ huy)[73]:350
  • BERJAYA Kata'ib Hezbollah: Không rõ số lượng[81]
  • BERJAYA Kuwait: 230 chiếc M113A2, 30 chiếc M577 (Xe chỉ huy)[73]:352
  • BERJAYA Liban (Lục quân Liban): 1.274 chiếc M113A1 và M113A2[73]:354
  • BERJAYA Libya (Quân đội Quốc gia Libya) M113, M106[73]:357
  • BERJAYA Litva (Lục quân Lithuania): 234 chiếc M113A1, 22 chiếc M577 (Xe chỉ huy), 15 chiếc M113 mang súng cối Tampella[73]:124
  • BERJAYA Maroc: 400 chiếc M113A1 và M113A2, 419 chiếc M113A3, 86 chiếc M577A2 (Xe chỉ huy), 80 chiếc M901, 60 chiếc M163, 36 chiếc M106A2, 91 chiếc M1064A3[73]:359–360
  • BERJAYA Bắc Macedonia: 27 chiếc[73]:127
  • BERJAYA Na Uy (Lục quân Na Uy): 315 chiếc,[73]:133 bao gồm ít nhất 97 chiếc M113E3.[83] Việc nâng cấp một số chiếc lên biến thể mới M113F4 từng được đề xuất,[84] nhưng cuối cùng đã bị hủy bỏ để chuyển sang mẫu ACSV của hãng FFG, vốn dựa trên dòng PMMC G5.[85]
  • BERJAYA Pakistan: (Lục quân Pakistan) 2.300 chiếc M113A1/A2/P; phiên bản M113 mang tên lửa RBS-70[73]:297–298
  • BERJAYA Perú: 120 chiếc M113A1.[73]:427 Các hoạt động nâng cấp được thực hiện bởi công ty Desarrollos Industriales Casanave, với tên gọi Cobra-1.[86] Gói nâng cấp này bao gồm việc thay thế động cơ cũ bằng động cơ diesel hai thì tăng áp Detroit Diesel 6V53T công suất 280 mã lực kèm hộp số cải tiến, tối ưu hóa hệ thống treo và hệ thống lái, cải thiện hệ thống điện với máy phát điện 200 ampe.[86] Phiên bản này cũng bổ sung thêm một hệ thống trạm vũ khí điều khiển từ xa (RCWS), bao gồm một pháo tự động ZTM-1 cỡ nòng 30 x 165 mm với tầm bắn 4.000 m, hai bệ phóng tên lửa RAYO R-2P có tầm bắn 5.000 m chống lại các mục tiêu mặt đất và mục tiêu bay tầm thấp, một súng máy đồng trục cỡ nòng 7,62 x 54 mm, và các ống phóng lựu đạn khói.[86]
  • BERJAYA Philippines (Lục quân Philippines): 34 chiếc M113A1 FSV (phương tiện hỗ trợ hỏa lực), 18 chiếc M113A2 FSV, 42 chiếc M113A1, 120 chiếc M113A2 (một số được trang bị trạm vũ khí điều khiển từ xa Dragon RWS)[73]:301[87]
  • BERJAYA Ba Lan (Lục quân Ba Lan): 70 chiếc M-577 (Xe chỉ huy) và phiên bản tải thương quân y[75]
  • BERJAYA Bồ Đào Nha (Lục quân Bồ Đào Nha): 176 chiếc M113A1, 14 chiếc M113A2, 49 chiếc M577A2 (Xe chỉ huy), 17 chiếc M113 trang bị hệ thống TOW[73]:138
  • BERJAYA Ả Rập Xê Út (Lục quân Ả Rập Xê Út): 1.190 chiếc M113A4[73]:366
  • BERJAYA Nga (Lục quân Nga): Khoảng 33 chiếc hoặc nhiều hơn các biến thể M113 khác nhau đã bị tịch thu từ các lực lượng Ukraine (bao gồm 2 chiếc do Hà Lan viện trợ, 4 chiếc do Mỹ viện trợ và 1 chiếc do Úc viện trợ).[88][89] Các lực lượng Nga cũng được ghi nhận là đã sử dụng các xe thiết giáp chở quân M113 tịch thu được trong chiến đấu.[90][91][92]
  • BERJAYA Singapore (Lực lượng Vũ trang Singapore): hơn 750 chiếc M113A1 và M113A2[73]:304
  • BERJAYA Hàn Quốc (Lục quân Hàn Quốc): 420 chiếc M113, 140 chiếc M577 (Xe chỉ huy)[73]:284[75]
  • BERJAYA Tây Ban Nha: 453 chiếc[73]:148
  • BERJAYA Sudan: 36 chiếc[73]:498
  • BERJAYA Thụy Sĩ: 311 chiếc M113A2[73]:154
  • BERJAYA Syria: Được Thổ Nhĩ Kỳ viện trợ cho Quân đội Quốc gia Syria vào các năm 2018 và 2020 trước khi sáp nhập vào Quân đội Syria vào tháng 1 năm 2025, sau khi chính quyền Ba'ath sụp đổ.[93]
  • BERJAYA Đài Loan (Lục quân Trung Hoa Dân Quốc): (Biến thể CM-21) 650 chiếc M113, 225 chiếc trang bị pháo pháo tự động 20–30 mm[73]:308
  • BERJAYA Thái Lan: 430 chiếc M113A1 và M113A3[73]:312
  • BERJAYA Tunisia: 140 chiếc M113A1 và M113A2[73]:373
  • BERJAYA Thổ Nhĩ Kỳ: 2.813 chiếc M113A2T1 & T2[73]:155
  • BERJAYA Ukraina: Sau Cuộc xâm lược Ukraine của Nga 2022, 900 chiếc được Hoa Kỳ viện trợ,[94] 47 chiếc do Bồ Đào Nha viện trợ (bao gồm 2 chiếc M577A2),[95] 20 chiếc do Tây Ban Nha viện trợ, 11 chiếc do Đức viện trợ, 42 chiếc M113AS4 do Úc viện trợ và được vận chuyển bằng máy bay vận tải An-124 của hãng Antonov Airlines từ Canberra đến Leipzig.[96][97] Khoảng 353 chiếc YPR-765 đã được Hà Lan viện trợ.[98] Thêm 54 chiếc M113G3DK được Đan Mạch viện trợ.[99] 70 chiếc sau đó được viện trợ bởi Lithuania.[100][101] Thêm 100 chiếc nữa sẽ được Hoa Kỳ bàn giao,[102] và một số lượng không xác định các phương tiện tân trang sẽ được Hà Lan, Bỉ và Luxembourg viện trợ.[103] Tính đến ngày 1 tháng 2 năm 2025, có 499 chiếc M113 thuộc các biến thể khác nhau đã bị phá hủy, hư hỏng, bỏ lại hoặc bị lực lượng Nga tịch thu trong cuộc xung đột (470 chiếc do Mỹ viện trợ, 11 chiếc do Đan Mạch viện trợ và 18 chiếc do Úc viện trợ).[104]
  • BERJAYA Hoa Kỳ:
    • Lục quân Hoa Kỳ Ước tính khoảng 4.200 chiếc M113A2/A3 (thêm 8.000 chiếc nữa nằm trong kho lưu trữ) tính đến tháng 1 năm 2025.[76]:36
  • BERJAYA Uruguay: 24 chiếc M113A1UR[73]:432
  • BERJAYA Việt Nam: 200 chiếc[73]:316
  • BERJAYA Yemen: 107 chiếc M113A1[75]
BERJAYA
Một xe thiết giáp chở súng cối 120 mm M113 của Bundeswehr (Quân đội Đức)

Các bên vận hành trước đây

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. Mỗi xi-lanh trong động cơ thuộc dòng Detroit 53 có dung tích 53 cu. in., nhân với 6 bằng 318 cu. in.
  2. Các tiểu đoàn bộ binh cơ giới bao gồm: Tiểu đoàn 2/2, 1/5, 2/8, 1/16, 2/22, 4/23, 2/47, 1/50, 5/60, 1/61, và Lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn 5 Bộ binh (Cơ giới). Lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn 5 Bộ binh (Cơ giới) của Lục quân Hoa Kỳ tại Việt Nam không chỉ bao gồm các tiểu đoàn bộ binh cơ giới thuần túy. Cấu trúc của lữ đoàn này bao gồm: Tiểu đoàn Pháo binh 5/4, Tiểu đoàn Bộ binh hạng nhẹ 1/11 (bộ binh hành quân bộ, không trang bị xe thiết giáp), Tiểu đoàn Thiết giáp 1/77 (trang bị xe tăng M48 Patton), Tiểu đoàn Bộ binh cơ giới 1/61, Đại đội A thuộc Chi đoàn Kỵ binh thiết giáp 4/12 (đơn vị duy nhất của chi đoàn này tham chiến), và Chi đoàn Kỵ binh thiết giáp 3/5 được đặt dưới quyền kiểm soát hành quân (OPCON) hoặc phối thuộc từ Sư đoàn 9 Bộ binh. Đại đội thuộc Kỵ binh thiết giáp 12 và toàn bộ chi đoàn thuộc Kỵ binh thiết giáp 5 kể trên đều được trang bị xe tăng hạng nhẹ M551 Sheridan và xe bọc thép M113 ACAV.

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. UN Mission in the Central African Republic MINUSCA (ngày 3 tháng 5 năm 2012). "BF1V3726". flickr.com. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2017.
  2. "Thailand Invades Cambodia with Tanks and APCs". Militarnyi. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2025.
  3. "BAE Systems M113 Vehicles History". United Defense. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2010.
  4. "M113A2 APC". First Division Museum. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2020.
  5. Starry p. 73/Dunstan p. 107.
  6. "M113A3 FAMILY OF VEHICLES". BAE Systems (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2026.
  7. 1 2 McLeary, Paul (ngày 23 tháng 12 năm 2014). "Army Awards AMPV to BAE Systems, Future Fights Loom". Army Times. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2022.
  8. Yehoshua, Yossi (ngày 22 tháng 9 năm 2014). "Ya'alon approves addition of 200 advanced APCs for the IDF". Ynetnews (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2026.
  9. "Elbit to provide Iron Fist for IDF's Eitan AFV in $31m. deal - The Jerusalem Post". ngày 7 tháng 1 năm 2020.
  10. Dunstan 1983, tr. 5.
  11. Tunbridge 1978, tr. 4.
  12. Dunstan 1982, tr. 36.
  13. Dunstan 1982, tr. 37.
  14. Dunstan 1982, tr. 48.
  15. 1 2 Dunstan 1982, tr. 52.
  16. 1 2 Zumbro 1998, tr. 470.
  17. "Band-Track website from the M113's manufacturer, BAE". Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2009.
  18. 1 2 Bacchus, Jennifer (ngày 10 tháng 10 năm 2017). "ANAD teamwork ensures completion of OSVs". Defense Media Activity. Defense Logistics Agency.
  19. 1 2 Cooke, Gary. "Opposing Forces, Surrogate Vehicle (OSV) M113A3/BMP-2 (NSN 2350-01-420-4716)". inetres.com. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2025.
  20. Air University Library Index to Military Periodicals (bằng tiếng Anh). Air University Library. 1967.
  21. Dunstan/Vietnam Tracks/p. 92 footnote
  22. Foss 1987, pp. 442–443.
  23. Davidson, Graeme (tháng 1 năm 2005). Modelling the M113 Series. Bloomsbury USA. ISBN 978-1-84176-822-9. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2014.
  24. Gansel, Markus, "Elefantenschuh", Das Bundeswehrlexikon (bằng tiếng Đức), lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 8 năm 2011, truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2011
  25. Gansel, Markus, "Panzerunterlegekeil", Das Bundeswehrlexikon (bằng tiếng Đức), lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 8 năm 2011, truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2011
  26. Shin, Yun-ho; Chung, Jung-hoon; Kim, Jong-hwan (2018). "Test and estimation of ballistic armor performance for recent naval ship structural materials". International Journal of Naval Architecture and Ocean Engineering. 10 (6): 762–781. Bibcode:2018IJNAO..10..762S. doi:10.1016/j.ijnaoe.2017.10.007.
  27. Nuckols, William T.; Cameron, Robert S. "Don't Harness an Ox to a Racehorse: Get the M113 Out of the Armored Brigade Combat Team … Now, Please!" (PDF). www.benning.army.mil. FORT BENNING U.S. Army Fort Benning and The Maneuver Center of Excellence.
  28. Army's Evaluation of Stryker and M-113A3 Infantry Carrier Vehicles Provided Sufficient Data for Statutorily Mandated Comparison (PDF) (Báo cáo). tháng 5 năm 2003. tr. 19. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2015.
  29. Starry pp. 227–237.
  30. 1 2 "D/16 Official Army History January – March 1968" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 19 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2014.
  31. "Photo: U.S. advisor confers with ARVN 3rd Cav commander in front of a South Vietnamese M113". Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2010.
  32. "3d Armored Cavalry Squadron (ARVN) earned Presidential Unit Citation (United States) for extraordinary heroism" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 16 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2010.
  33. "Bar-Armor Experiments on M113 APCs in The Vietnam War". ngày 29 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2025.
  34. "Estimated Number Of Personal Arms Left Behind, 1975". Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2019.
  35. Gott, Kendall D.: Breaking The Mold: Tanks in the Cities [Illustrated Edition]
  36. Amnon Barzilai (ngày 10 tháng 6 năm 2004). תוכנית "נמרה": טנק המרכבה 1 יוסב לנגม"ש [Program "Nemmera": Tank will be altered APC]. Haaretz (bằng tiếng Do Thái). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2014.
  37. "Defense Ministry doubles orders for tank, Namer APC parts". JPost. ngày 3 tháng 3 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2015.
  38. Sterman, Adiv (ngày 23 tháng 7 năm 2014). "Soldiers refuse to board obsolete, unprotected APC". The Times of Israel. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018.
  39. Beaumont, Peter (ngày 15 tháng 6 năm 2024). "Eight Israeli soldiers killed in southern Gaza, military says". The Observer (bằng tiếng Anh). ISSN 0029-7712. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2024.
  40. AlJazeera Arabic قناة الجزيرة (ngày 24 tháng 6 năm 2024). كتائب القسام تستهدف آلية إسرائيلية بصاروخ "السهم الأحمر" الموجه. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2024 qua YouTube.
  41. 1 2 "Israel Builds First Prototype of Future Fighting Vehicle". Defense News (bằng tiếng Anh). ngày 25 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2026.
  42. 1 2 3 "Defense Ministry approves new armored vehicles for IDF". The Times of Israel. ngày 11 tháng 3 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018.
  43. Safronov, Taras (ngày 29 tháng 5 năm 2025). "Israel has decided to sell M113 armored personnel carriers to anyone interested". militarnyi.com. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2025.
  44. "/ Examining Israel's use of explosive armored personnel carriers in Gaza, Lebanon". Turkiye Today. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2024.
  45. "תחקיר: הנגמ"שים המתאבדים שצה"ל מכחיש את קיומם". Makor Rishon. ngày 28 tháng 7 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2024.
  46. "IDF is using unmanned M113s in Gaza - report". The Jerusalem Post (bằng tiếng Anh). ngày 28 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2024.
  47. "Israel sent unmanned M113 suicide APCs to Jabalya and Rafah". ngày 31 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2024.
  48. "IAI says Israeli military is using its teaming system for unmanned ground vehicles". Default (bằng tiếng Anh). ngày 5 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2024.
  49. Perkins, Nancy; J. O'Donoghue, Amy (ngày 15 tháng 4 năm 2008). "FLDS at ranch detail raid by Texas officials". Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2017 qua Deseret News.
  50. Axe, David. "The M-113 Troop-Carrier Is Old And Lightly Armored. It's Also Helping Ukraine Win The War With Russia". Forbes (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2024.
  51. "Leopards From Lisbon: Portuguese Arms Supplies To Ukraine". Oryx (bằng tiếng Anh).
  52. Besenyo, Türke & Szénási (2025), tr. 25.
  53. Besenyo, Türke & Szénási (2025), tr. iii.
  54. "Vendors Pour Funding Into Armored Vehicle Development". National Defense (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 12 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2026.
  55. "Rapid Fire March 30, 2012: Armored Multi-Purpose Vehicle". defenseindustrydaily.com. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2017.
  56. "Army Develops New Concepts, Keeps Existing Fleets Rolling". Defense News (bằng tiếng Anh). ngày 12 tháng 10 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2026.
  57. Bertuca, Tony (ngày 29 tháng 12 năm 2014). "Competitor had bowed out: BAE Systems Wins Army's Armored Multi-Purpose Vehicle Contract". Inside the Army. Quyển 26 số 52. Inside Washington Publishers. tr. 12. JSTOR 24837524. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2022.
  58. Freedberg, Sydney J. Jr. (ngày 22 tháng 3 năm 2013). "Army Issues RFP For $6 Billion M113 Replacement: Armored Multi-Purpose Vehicle Program". Defense.AOL.com. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2013.
  59. "70-Year-Old M113s: The Army's Long March To AMPV". Breaking Defense (bằng tiếng Anh). ngày 31 tháng 3 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2026.
  60. 1 2 Foss 1987, p. 444.
  61. Foss 1987, p. 436.
  62. "M113 Armored Personnel Carrier". AFV Database (AFVDB.com) (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2026.
  63. "Introduction to the M113A3 Armored Personnel Carrier". Technical Publishing. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2018.
  64. Hunnicutt 1999, tr. 427.
  65. Hunnicutt 1999, tr. 428.
  66. Hunnicutt 1999, tr. 429.
  67. Hunnicutt 1999, tr. 430.
  68. M113AS Upgrade (PDF), BAE Systems Australia, Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2010, truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2010
  69. "Soldiers to operate armed robotic vehicles from upgraded Bradleys". www.army.mil. ngày 15 tháng 7 năm 2019.
  70. "Vietnam-Vintage Vehicles Blaze Trail For Robot Tanks: Army RCV". Breaking Defense (bằng tiếng Anh). ngày 30 tháng 8 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2026.
  71. International Institute for Strategic Studies (2020). The Military Balance. Quyển 120. Routledge. ISBN 978-0-367-46639-8.
  72. Higuera, Jose (ngày 13 tháng 6 năm 2017). "Argentine Army announces armor upgrade programmes". IHS Jane's 360. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2017.
  73. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 The Military Balance. International Institute for Strategic Studies. 2022. ISBN 978-1-032-27900-8.
  74. Houston, Bill; Handel, Paul (ngày 9 tháng 4 năm 2015). "Half a century's service" (PDF). Army: The Soldiers' Newspaper (ấn bản thứ 1348). Canberra, Australia: Department of Defence. tr. 29. ISSN 0729-5685. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 27 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2016.
  75. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 "Trade Registers". armstrade.sipri.org (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2018.
  76. 1 2 The Military Balance. International Institute for Strategic Studies. 2025. ISBN 978-1-041-04967-8.
  77. Janes Land Warfare Platforms: Armoured Fighting Vehicles - Tracked 2022-2023. Jane's Information Group. tháng 6 năm 2022. tr. 636–651. ISBN 978-0-7106-3400-9.
  78. "Excess armored personnel carriers benefit U.S., foreign partners". Army.mil. ngày 28 tháng 6 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 7 năm 2013.
  79. Debay, Yves (2003). Operation Iraqi Freedom: Road to Baghdad. Special Obs 26. Concord Publication. tr. 64. ISBN 962-361-066-1.
  80. Meek, James (ngày 23 tháng 3 năm 2003). "Nightmare in a minefield". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2018.
  81. Bill Roggio & Kaled Weiss (ngày 25 tháng 6 năm 2015). "Hezbollah Brigades flaunts US equipment in Anbar operation". Long War Journal. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2015.
  82. Sex & Abi-Chahine, Modern Conflicts 2 – The Lebanese Civil War, From 1975 to 1991 and Beyond (2021), p. 219.
  83. "BAE Systems Wins New Land Contracts in Nordic Markets". www.defense-aerospace.com. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2017.
  84. Forsvarsdepartementet (ngày 9 tháng 2 năm 2017). "Hæren får nye pansrede transportpanservogner". Regjeringen.no (bằng tiếng Na Uy). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2017.
  85. Mönch Publishing Group (ngày 30 tháng 5 năm 2018). "FFG Support Vehicles for Norway". Monch.com. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2018.
  86. 1 2 3 "Vehículo de Combate de Infantería "Cobra-1"". www.discasanave.com. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2022.
  87. David Saw. "The Philippine Army – Developing a Modernisation Strategy". SP's Land Forces. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2014.
  88. "Attack on Europe: Documenting Ukrainian Equipment Losses During the Russian Invasion of Ukraine".
  89. "A US-made M113 armored car is captured by Wagner mercenaries at Bakhmut". ngày 10 tháng 4 năm 2023.
  90. "Russian media shows US armored vehicle with Russian, American flags storming Ukrainian positions (VIDEO)".
  91. "Russia Adding US-Made Armored Personnel Carrier to Military Arsenal". ngày 5 tháng 2 năm 2025.
  92. "Russian army touts outdated M113 as prized war trophy". essanews. ngày 2 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2025 qua MSN.com.
  93. Mitzer, Stijn; Oliemans, Joost (ngày 18 tháng 12 năm 2021). "From Türkiye With Love: Tracking Turkish Military Donations". Oryx Blog.
  94. "U.S. Security Cooperation with Ukraine". www.state.gov/ (bằng tiếng Anh). ngày 12 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2024.
  95. "Apoio Militar à Ucrânia" (PDF). ngày 22 tháng 2 năm 2024.
  96. "AN-124 cargo aircraft loaded M113s and wheeled 4×4 MPVs for Ukraine" (bằng tiếng Anh). ngày 20 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2022.
  97. "Archived copy". Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2022.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bản lưu trữ là tiêu đề (liên kết)
  98. "Голандські БМП YPR-765 вже в Україні, разом з польськими Т-72М1 будуть нищити рашистів | Defense Express".
  99. "Militärische Unterstützungsleistungen für die Ukraine | Bundesregierung". ngày 4 tháng 8 năm 2023.
  100. "Lithuania has already sent 50 M113 armored vehicles to Ukraine – minister". The Baltic Times (bằng tiếng Anh). ngày 26 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2026.
  101. "Germany handed over to Ukraine 3 additional Gepard SPAAG and 11 M113 APC". Militarnyi (mil.in.ua) (bằng tiếng Anh). ngày 28 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2026.
  102. "More Than $3 Billion in Additional Security Assistance for Ukraine". United States Department of Defense (Thông cáo báo chí). United States Department of Defense. ngày 6 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2023.
  103. "Benelux doneert opgeknapte pantserinfanterievoertuigen aan Oekraïne" [Benelux donates refurbished armored personnel carriers to Ukraine] (bằng tiếng Dutch). ngày 18 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2023.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  104. "Attack On Europe: Documenting Ukrainian Equipment Losses During The 2022 Russian Invasion Of Ukraine". www.oryxspioenkop.com. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2023.
  105. Kassis, Véhicules Militaires au Liban/Military Vehicles in Lebanon (2012), p. 40.
  106. Sex & Abi-Chahine, Modern Conflicts 2 – The Lebanese Civil War, From 1975 to 1991 and Beyond (2021), p. 199.
  107. 1 2 El-Assad, Moustafa (2007). Blue Steel III: M-113 Carriers in South Lebanon (bằng tiếng Anh). Blue Steel Books. tr. 8.
  108. Kassis, Samer (2003). 30 Years of Military Vehicles in Lebanon (bằng tiếng Anh). Elite Group. tr. 64–65. ISBN 9953-0-0705-5.
  109. Cooper, Tom; Santana, Sergio (2019). Lebanese Civil War Volume 1: Palestinian diaspora, Syrian and Israeli interventions, 1970-1978. Middle East@War (bằng tiếng Anh). Helion & Company. tr. 56. ISBN 978-1-91162-818-7.
  110. Sex, Zachary; Abi-Chahine, Bassam (2021). Modern Conflicts 2 – The Lebanese Civil War, From 1975 to 1991 and Beyond (bằng tiếng Anh). Abrams Squad. tr. 205, 207.
  111. Kassis, Samer (2012). Véhicules Militaires au Liban / Military Vehicles in Lebanon 1975–1981 (bằng tiếng Pháp và Anh). Elite Group. tr. 46–47. ISBN 978-9953-0-2372-4.
  112. Jureidini, Paul A.; McLaurin, R. D.; Price, James M. (1979). Military operations in selected Lebanese built-up areas, 1975-1978 (bằng tiếng Anh). U.S. Army Human Engineering Laboratory. tr. Appendix A, table A-6.
  113. Hokayem, Antoine (2012). L'armée libanaise pendant la guerre: un instrument du pouvoir du président de la République (1975–1985) (bằng tiếng Pháp). Éditions l'Harmattan. tr. 29–30. ISBN 978-2-296-96263-7.
  114. Central America Report. Quyển 24. Inforpress Centroamericana. 1997. tr. 33.
  115. Sex & Abi-Chahine, Modern Conflicts 2 – The Lebanese Civil War, From 1975 to 1991 and Beyond (2021), p. 59.
  116. Kassis, Véhicules Militaires au Liban/Military Vehicles in Lebanon (2012), pp. 40; 59.
  117. Kassis, 30 Years of Military Vehicles in Lebanon (2003), p. 23.
  118. Kassis, Véhicules Militaires au Liban/Military Vehicles in Lebanon (2012), pp. 49–50.
  119. Kassis, Véhicules Militaires au Liban/Military Vehicles in Lebanon (2012), pp. 62–63.
  120. Sex & Abi-Chahine, Modern Conflicts 2 – The Lebanese Civil War, From 1975 to 1991 and Beyond (2021), pp. 74-75.
  121. "New Zealand Arms Register".
  122. Sex & Abi-Chahine, Modern Conflicts 2 – The Lebanese Civil War, From 1975 to 1991 and Beyond (2021), p. 159.
  123. Kassis, 30 Years of Military Vehicles in Lebanon (2003), p. 57.
  124. Sex & Abi-Chahine, Modern Conflicts 2 – The Lebanese Civil War, From 1975 to 1991 and Beyond (2021), p. 26.
  125. Cooper & Sandler, Lebanese Civil War Volume 2: Quiet before the Storm, 1978-1981 (2021), Plate i.
  126. Kassis, Véhicules Militaires au Liban/Military Vehicles in Lebanon (2012), p. 82.
  127. Prenatt, Jamie (2017). M113 APC 1960–75: US, ARVN, and Australian variants in Vietnam. Osprey Publishing. tr. 19.
  128. Abbott, Peter (ngày 20 tháng 2 năm 2014). Modern African Wars (4): The Congo 1960–2002. Men-at-Arms 492. Osprey Publishing. tr. 33. ISBN 978-1-78200-076-1.
  129. Kassis, 30 Years of Military Vehicles in Lebanon (2003), p. 25.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]

Các loại xe thiết giáp có cùng sự phát triển

[sửa | sửa mã nguồn]