Tabiry
| Tabiry | ||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Vương hậu của Nubia và Ai Cập cổ đại | ||||||||||||
| Thông tin chung | ||||||||||||
| An táng | Ku.53 (El-Kurru) | |||||||||||
| Hôn phối | Piye | |||||||||||
| ||||||||||||
| Vương triều | Vương triều thứ 25 | |||||||||||
| Thân phụ | Alara | |||||||||||
| Thân mẫu | Kasaqa | |||||||||||
Tabiry là một vương nữ người Nubia, sau trở thành vương hậu của cả Vương quốc Kush và Ai Cập cổ đại thời kỳ Vương triều thứ 25.
Gia phả
[sửa | sửa mã nguồn]Theo tấm bia tưởng niệm trong ngôi mộ Ku.53 (nghĩa trang El-Kurru), hiện lưu giữ tại Khartoum, Tabiry là con gái của vua Alara, được hậu duệ xem là tổ tiên của Vương triều thứ 25, với Kasaqa, một vương hậu chỉ được biết qua tấm bia này.[1]
Văn khắc bia cũng cho biết, Tabiry là một Đệ nhất Đại vương hậu của pharaon Piye, khẳng định tính chính danh của dòng dõi Alara, cho thấy địa vị của bà trong hậu cung rõ ràng là rất cao. Tabiry mất trước chồng và dường như không sinh được người kế vị ngai vàng.[1] Nếu Alara và Kashta, pharaon đầu tiên của Vương triều thứ 25, là anh em theo như giả thuyết của các học giả đưa ra,[2] thì Tabiry và Piye là chị em họ (do Piye được xem là con của Kashta).
Ngoài danh xưng kể trên, Tabiry còn được gọi là "Nữ nhân vĩ đại của vùng ngoại bang" (ḫꜣs.tyw) khiến George Andrew Reisner cho rằng vương hậu và cả vương triều này có nguồn gốc Libya cổ đại. Ngày nay, giả thuyết cho rằng Vương triều thứ 25 có nguồn gốc Libya dường như không còn thuyết phục. Tuy nhiên, danh xưng này của Tabiry vẫn là một trường hợp bất thường, ví dụ như trên Bia đá Chiến thắng của Piye tại Gebel Barkal, thuật ngữ "người cai trị vùng ngoại bang" (ḥqꜣ n ḫꜣst) quả thực được dùng để chỉ các thủ lĩnh vùng Libya.[3] D. M. Dixon phản bác điều này, cho rằng Reisner đã giải nghĩa sai từ tượng hình. Theo Dixon, danh xưng đó phải dịch là Nữ thủ lĩnh của cư dân sa mạc, dựa theo cách gọi của người Ai Cập cổ đối với các bộ tộc cư trú ngoài vùng văn minh của họ.[4] Danh xưng này có thể hiểu trong bối cảnh, các vua người Kush vẫn khẳng định sự kế thừa hợp pháp theo truyền thống Ai Cập nhưng không phủ nhận bản sắc Nubia của họ.[5]
An táng
[sửa | sửa mã nguồn]Do tấm bia tưởng niệm của Tariby được tìm thấy trong ngôi mộ tại kim tự tháp Ku.53 ở El-Kurru nên đó được xem là nơi chôn cất của bà. Trong Ku.53, lưới phủ xác ướp được kết từ các hạt sứ men và bạc, còn quan tài gỗ được khảm mắt cùng khoảng 240 tượng shabti hình nữ giới.[6] Ku.53 còn có thêm một phòng mộ đục vào đá riêng biệt ở phía tây, có kiến trúc tương đồng với lăng mộ của Piye, Ku.17.[7]
Trong Ku.53 còn tìm thấy những mảnh xương người từ nhiều cá thể khác nhau, có khả năng đây là nơi cải táng về sau.[8]
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- 1 2 Eide 1994, tr. 119-120.
- ↑ Eide 1994, tr. 42.
- ↑ Ritner, Robert K. (2009). The Libyan Anarchy: Inscriptions from Egypt's Third Intermediate Period. Society of Biblical Literature. tr. 494–495. ISBN 978-1-58983-174-2.
- ↑ Dixon, D. M. (1964). "The Origin of the Kingdom of Kush (Napata-Meroë)". The Journal of Egyptian Archaeology. Quyển 50. tr. 121–132. doi:10.2307/3855745. ISSN 0307-5133.
- ↑ Vittmann, Günter (2007). "A Question of Names, Titles, and Iconography. Kushites in Priestly, Administrative and other Positions from Dynasties 25 to 26". Mitteilungen der Sudanarchäologischen Gesellschaft zu Berlin. Quyển 18. tr. 139–161.
- ↑ Török, László (2015). The Kingdom of Kush: Handbook of the Napatan-Meroitic Civilization. Nhà xuất bản Brill. tr. 165. ISBN 978-90-04-29401-1.
- ↑ Wenig 1999, tr. 42.
- ↑ Wenig 1999, tr. 80.
- Nguồn
- Eide, Tormod; Hägg, Tomas; Pierce, Richard Holton; Török, László, biên tập (1994). Fontes historiae nubiorum: textual sources for the history of the middle Nile region between the eighth century BC and the sixth century AD (quyển 1). Đại học Bergen. ISBN 978-82-991411-6-1.
- Wenig, Steffen, biên tập (1999). Studien zum antiken Sudan. Meroitica. Harrassowitz Verlag. ISBN 978-3-447-04139-3.
